Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27-02-2025

“V/v Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Linh Duy

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Võ Thị Kiều Loan;
  2. Bà Nguyễn Thị Rạt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huỳnh Như – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.

Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 1180/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2025/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1989;

Địa chỉ: Ấp X, thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang.

- Bị đơn: Ông Lê Tấn P, sinh năm 1991;

Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An.

(bà N có đơn đề nghị vắng mặt, ông P vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 20/8/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà N và ông P có tìm hiểu nhau và sau đó đi đến hôn nhân vào năm 2011. Ông bà có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An vào ngày 16/6/2014. Thời gian đầu chung sống vợ chồng tương đối hạnh phúc. Tuy nhiên, đến năm 2019 thì vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong hôn nhân, tình cảm rạn nứt, đã nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả, ông P thô lỗ, sống buông thả, không quan tâm vợ con, vợ chồng đã ly thân từ cuối năm 2020 đến nay. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, không thể duy trì quan hệ hôn nhân nên bà N khởi kiện yêu cầu:

Về tình cảm: Bà Nguyễn Thị N yêu cầu ly hôn với ông Lê Tấn P.

Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Anh L, sinh ngày 24/6/2012 và Lê Ngọc G, sinh ngày 05/6/2013, đang sống với bà N. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung đến khi trưởng thành, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Lê Tấn P vắng mặt trong quá trình thụ lý giải quyết và vắng mặt tại phiên tòa nên không có ý kiến trình bày.

Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng cho ông Lê Tấn P theo quy định tại Điều 177 Bộ luật Tố tụng dân sự, ông P biết Tòa án đang thụ lý giải quyết ly hôn với bà N nhưng ông P không tham gia cung cấp ý kiến, không tham gia hòa giải, nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, ông Lê Tấn P vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử giải quyết theo đơn khởi kiện của bà N và xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bà N bận việc nên có đơn đề nghị xử vắng mặt. Tòa án quyết định xử vắng mặt nguyên đơn quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Bà Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Tấn P cư trú tại ấp B, xã H, huyện Đ, tỉnh Long An. Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An nơi bị đơn cư trú thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2]. Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị N bận việc nên có đơn đề nghị xử vắng mặt; ông Lê Tấn P vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp theo qui định khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1]. Về tình cảm:

Xét quan hệ hôn nhân bà N, ông P có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Long An, vào ngày 16/6/2014 nên hôn nhân giữa bà N với ông P là hợp pháp theo qui định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét yêu cầu ly hôn của bà N đối với ông P: bà N cho rằng nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, ông P không quan tâm chăm sóc vợ con, hôn nhân không hạnh phúc và đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay bà N thấy tình nghĩa vợ chồng không còn nên xin ly hôn. Tòa án đã tiến hành tống đạt mời ông Lê Tấn P, ông P biết Tòa án đang thụ lý giải quyết ly hôn với bà N nhưng ông P không tham gia cung cấp ý kiến, không tham gia hòa giải cho thấy ông P không có thiện chí hàn gắn. Từ đó, Hội đồng xét xử xét hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị N với ông Lê Tấn P đã mâu thuẫn trầm trọng nên bà N yêu cầu xin ly hôn với ông P là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2]. Về con chung:

Bà N trình bày trong quá trình chung sống giữa bà N với ông P có 02 con chung tên Lê Anh L, sinh ngày 24/6/2012 và Lê Ngọc G, sinh ngày 05/6/2013, con chung đang sống với bà N. Khi ly hôn, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi 02 con chung đến khi trưởng thành, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, 02 con chung đang chung sống ổn định với bà N và đều có nguyện vọng sống với bà N. Ông Lê Tấn P vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có ý kiến trình bày đối với vấn đề con chung. Do đó, Hội đồng xét xử thấy bà N yêu cầu trực tiếp nuôi 02 con chung là phù hợp quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên ghi nhận.

[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con:

Bà N không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con, không trái với các qui định tại các Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên HĐXX ghi nhận.

[2.4]. Về tài sản chung:

bà N xác định không có, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.5] Về nợ chung:

bà N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với ông Lê Tấn P vắng mặt tại phiên tòa, không thể hiện ý kiến về tình cảm, con chung, cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét giải quyết. Nếu sau này, giữa bà N và ông P có phát sinh tranh chấp về con chung, cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung thì các bên được quyền khởi kiện để giải quyết trong một vụ án khác.

[3].Về án phí:

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án;

Buộc nguyên đơn bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí ly hôn sung Ngân sách Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Áp dụng các Điều 9, Điều 14, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị N đối với ông Lê Tấn P.

    Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Lê Tấn P.

  2. Về con chung: Khi ly hôn, bà Nguyễn Thị N được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Lê Anh L, sinh ngày 24/6/2012 và Lê Ngọc G, sinh ngày 05/6/2013 đến khi trưởng thành.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Lê Tấn P không phải cấp dưỡng nuôi con vì bà N không yêu cầu.
  4. Về quyền chăm sóc con chung: Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bên trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bên trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở bên không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

    Khi cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bên trực tiếp nuôi con, bên không trực tiếp nuôi con, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

  5. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị N trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét
  6. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị N trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  7. Về án phí: Bà Nguyễn Thị N phải nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm sung ngân sách Nhà nước, khấu trừ 300.000đồng tạm ứng án phí bà N đã nộp theo biên lai số 0005905 ngày 08/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa sang án phí để thi hành. Bà Nguyễn Thị N đã nộp xong.
  8. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc từ ngày niêm yết.

    Trường hợp bản án hoặc quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Khắc Linh Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về ly hôn (hôn nhân gia đình)

  • Số bản án: 35/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị N ly hôn ông Lê Tấn P
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger