Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 35/2025/HS-ST

Ngày: 26/02/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Bà Hà Vân Hồng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Phú

Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Hoàng Anh - Là thư ký Toà án nhân

dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt tham gia phiên

toà: bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 11/2025/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 01 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2025/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Bùi Văn T; sinh ngày 29 tháng 3 năm 1988, tại: Thanh Hóa; Nơi ĐKHKTT: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: không; Con ông Bùi Xuân T1, sinh năm 1954 và bà Trương Thị L, sinh năm 1956; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giam ngày 23/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Đ; Có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Đỗ Thị Ngọc T2; sinh ngày 12 tháng 3 năm 2004, tại: Lâm Đồng; Nơi ĐKHKTT: A N, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông Đỗ Anh C, sinh năm 1983 và Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1985; Có chồng Lê Sỹ H (đã ly hôn) và có 02 con sinh năm 2019 và 2021; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giam ngày 23/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Đ; Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn T và Đỗ Thị Ngọc T2 sống chung với nhau như vợ chồng tại phòng trọ thuê ở địa chỉ D P, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Cả hai đều không có nghề nghiệp ổn định nhưng muốn có tiền tiêu xài và sử dụng ma túy, nên đã nảy sinh ý định mua ma túy để vừa sử dụng vừa bán cho người khác kiếm tiền lời. Thực hiện ý định trên, vào ngày 16/4/2024 T liên lạc với B, tài khoản Z là “Family” để hỏi mua 6.000.000₫ (sáu triệu đồng) ma túy thì B đồng ý và cho T thêm một ít ma túy để T sử dụng thử. Đến khoảng 12 giờ ngày 17/4/2024, T nhận được 01 gói nylon, bên trong có chứa 05 gói mỳ tôm, bên trong 05 gói mỳ tôm có 01 gói nylon bên trong có chứa ma túy loại Heroin và 03 gói nylon bên trong có chứa ma túy đá. T dùng kéo, nhíp và cân điện tử chia nhỏ số ma túy là H1 vào các đoạn ống hút nhựa rồi hàn kín. Sau khi chia gần hết số ma túy loại Heroin vào các đoạn ống hút, số H còn lại T chia thành 03 gói nylon nhỏ và 03 gói ma túy đá cùng cân, điện tử, kéo, nhíp và nhiều đoạn ống hút nhựa không chứa gì cho vào túi nylon màu xanh rồi cất giấu tại nhà vệ sinh trong phòng trọ. Số ma túy loại Heroin trong các đoạn ống hút T cất giữ trong người với mục đích vừa sử dụng vừa bán lại cho người khác để kiếm lời. Cả hai đã bán ma túy trong số ma túy loại Heroine mà T mua được kể trên nhiều lần và cho nhiều người, cụ thể như sau:

Lần 1: Vào ngày 22/4/2024, T đưa cho T2 02 đoạn ống hút nhựa chứa ma túy loại Heroin cùng chiếc điện thoại hiệu Mobell màu xanh, bàn phím bấm, gắn sim số 0971540267 của T và nói T2 đi giao ma túy cho 02 người khách, mỗi người một tép ma túy với giá 300.000 đồng/01 tép thì T2 đồng ý. Sau đó T2 một mình mang 02 tép ma túy mà T đưa đi bán cho 02 người nam thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) được số tiền 560.000đ (năm trăm sáu mươi ngàn đồng) rồi T2 cầm về đưa cho T.

Lần 2: Vào khoảng 08 giờ ngày 23/4/2024, T bán được 06 (sáu) tép ma túy loại Heroine cho một nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch), tại khu vực sân vận động P, thành phố Đ được 1.500.000đ (Một triệu năn trăm nghìn đồng).

Đến hơn 09 giờ sáng ngày 23/4/2024, khi có khách gọi hỏi mua ma túy thì T lấy 01 (một) gói ma túy đá cất trong vỏ kẹo có chữ X.O cất trong túi quần đang mặc, 01 (một) gói nylon dạng túi zip màu đen bên trong một gói có chứa 08 (tám) đoạn ống hút nhựa có chứa Heroin cất vào trong găng tay bên phải; 01 (một) gói nylon chứa 10 (mười) đoạn ống hút có chứa H1 cất vào trong tất chân trái; 01 (một) đoạn ống hút nhựa có chứa Heroin cất vào sau ốp lưng điện thoại đang sử dụng để đi giao ma túy cho khách. Khi T vừa đi ra khỏi phòng trọ thì bị Cơ quan Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang T đang cất giữ ma túy tại các vị trí kể trên. Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang tại chỗ đối với T, thu giữ niêm phong tang vật tại các vị trí phát hiện theo quy định.

Sau đó, Cơ quan Công an tiến hành kiểm tra tại phòng trọ của T và T2 đang ở. Tại đây, Công an phát hiện trong hộp giấy trên gác gần chỗ T2 ngồi có chứa 01 (một) ống thủy tinh uốn cong, một đầu có dạng bầu tròn hở, bên trong vẫn còn một ít chất tinh thể màu nâu nghi là ma túy, 01 chai thủy tinh màu đen một mặt có chữ CIO, một bật lửa khò màu xanh. Tại chỗ, T2 và T khai nhận đây là dụng cụ cả hai dùng để sử dụng ma túy và chất trong nỏ thủy tinh là ma túy đá còn lại mà cả hai vừa sử dụng.

Tại vị trí bên ngoài nhà vệ sinh phòng trọ có một túi nylon màu xanh bên trong túi nylon này có chứa: 01 (một) hộp kim loại màu đỏ, không có nắp hộp, bên trong có 01 (một) kéo kim loại dạng gấp; 01 (một) hộp nhựa màu trắng có nắp đậy, 02 (hai) cân tiểu ly màu đen; 03 (ba) túi zip màu trắng trong, bên trong cả 03 (ba) túi zip đều đựng chất bột màu trắng nghi là ma túy; 01 (một) hộp kim loại màu xanh, bên trong có 39 (ba mươi chín) đoạn ống nhựa màu trắng, một đầu hở, một đầu hàn kín, bên trong cả 39 (ba mươi chín) đoạn ống nhựa này không chứa gì; 02 (hai) đoạn ống nhựa màu trắng, một đầu cắt vát; 01 (một) nhíp kim loại, một đầu cuốn băng keo đen có gắn ống nhựa cắt vát màu trắng; 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng trong hàn kín hai đầu đựng chất nghi là ma túy; 01 (một) túi zip màu trắng trong, bên trong đựng chất nghi là ma túy; 01 (một) nắp nhựa có gắn ống hút và ống thủy tinh uốn cong, một đầu có dạng bầu tròn hở, bên trong bầu tròn chứa chất nghi là ma túy; 01 (một) túi zip màu đen bên trong không chứa gì. Tại chỗ, T khai nhận số chất trong trong túi nylon là ma túy heroine và ma túy đá của T và các dụng cụ trên là của T dùng để phân chia ma túy; T2 khai nhận đây là túi nylon chứa ma túy do T2 vứt ra.

Quá trình điều tra còn xác định được: Khoảng 02 giờ ngày 23/4/2024, tại phòng trọ của T và T2 thuê, T đưa cho T2 01 gói ma túy đá, rồi T2 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của T đổ một ít ma túy vào và sử dụng ma túy. Đến khoảng 07 giờ 00 cùng ngày, T2 tiếp tục lấy số ma túy đá còn lại mà T bỏ ra sử dụng chưa hết, đổ hết vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi cùng T sử dụng tại phòng trọ.

Vật chứng thu giữ thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang: 01 (một) túi nylon dạng vỏ kẹo có chữ X.O bên trong có 01 (một) đoạn ống hút màu trắng trong hàn kín hai đầu đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 (một) túi nylon màu đen, một đầu có khóa kẹp nhựa, bên trong túi nylon có 08 (tám) đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu, bên trong cả 08 (tám) đoạn ống nhựa này đều đựng chất nghi là ma túy; 01 (một) túi nylon màu đen, một đầu có khóa kẹp nhựa, bên trong túi nylon có 10 (mười) đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu, bên trong cả 10 (mười) đoạn ống nhựa này đều đựng chất nghi là ma túy; 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu, bên trong đoạn ống nhựa này chứa chất nghi là ma túy; 01 (một) bao tay màu xanh; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, trên điện thoại có gắn 01 (một) ốp lưng màu nâu đen bằng nhựa có chữ “Ferrari” gắn sim số 0942.886.304; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu Gold đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong gắn sim số 0911.237.224; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, có bàn phím bấm, màu xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong gắn sim số 0971.540.267; Số tiền 2.160.000đ (hai triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng); 01 (một) xe mô tô biển số: 37G1 - 885.38, số máy: G3J6E0130851; số khung: MH3RG4710JK073106.

* Thu giữ, tạm giữ khi khám nghiệm hiện trường: 01 (một) hộp giấy hình trụ tròn màu cam có chữ “Lays”; 01 (một) ống thủy tinh uốn cong, một đầu có dạng bầu tròn hở, bên trong bầu tròn có đựng chất màu nâu nghi là ma túy; 01 (một) chai thủy tinh màu đen có chữ “CIO” trên nắp có gắn 02 (hai) ống hút; 01 bật lửa khò màu xanh; 01 (một) túi nylon màu xanh; 01 (một) hộp kim loại màu đỏ, không có nắp hộp, bên trong có 01 (một) kéo kim loại dạng gấp; 01 (một) hộp nhựa màu trắng có nắp đậy, bên trong có 2 (hai) cân tiểu ly màu đen; 03 (ba) túi zip màu trắng trong, bên trong cả 03 (ba) túi zip đều đựng chất cục bột màu trắng nghi là ma túy; 01 (một) hộp kim loại màu xanh, bên trong có 39 (ba mươi chín) đoạn ống nhựa màu trắng, một đầu hở, một đầu hàn kín, bên trong cả 39 (ba mươi chín) đoạn ống nhựa này không chứa gì; 02 (hai) đoạn ống nhựa màu trắng, một đầu cắt vát; 01 (một) nhíp kim loại, một đầu cuốn băng keo đen có gắn ống nhựa cắt vát màu trắng; 01 (một) đoạn ống hút màu trắng trong hàn kín hai đầu đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 (một) túi zip màu trắng trong, bên trong đựng chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 (một) nắp nhựa có gắn ống hút và ống thủy tinh uốn cong, một đầu có dạng bầu tròn hở, bên trong bầu tròn có chất màu trắng đục nghi là ma túy; 01 (một) túi zip màu đen bên trong không chứa gì.

* Đồ vật thu giữ, tạm giữ của Đỗ Thị Ngọc T2: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ, màn hình bị nứt vỡ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong gắn sim số 0333.925.485, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong gắn sim số 0911.815.988; 01 (một) xe máy hiệu Yamaha màu nâu bạc, biển số: 49B1 – 119.05, số máy: P11079653, số khung: 09Y079659; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô xe máy, số: 009543.

* Tại Bản kết luận giám định số 499/KL-KTHS ngày 26/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:

  • Mẫu chất màu nâu trong nỏ thủy tinh thu giữ trong căn phòng trọ được niêm phong gửi giám định là ma túy; có khối lượng 0,1160g (không phẩy một một sáu không gam), loại Methamphetamine.
  • Mẫu cục bột thu giữ trong gói nylon để trong ốp lưng chiếc điện thoại của T, được niêm phong gửi giám định là ma túy; có khối lượng 0,1038g (không phẩy một không ba tám gam), loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine.
  • Mẫu tinh thể trong túi nylon dạng vỏ kẹo có chữ “X.O” được niêm phong gửi giám định là ma túy; có khối lượng 0,1295g (không phẩy một hai chín năm gam), loại Methamphetamine.
  • Mẫu cục bột trong gói nylon cất trong bao tay phải của T, được niêm phong gửi giám định là ma túy; có khối lượng 0,8318g (không phẩy tám ba một tám gam), loại Heroine.
  • Mẫu cục bột thu giữ trong tất trái của T, được niêm phong gửi giám định là ma túy; có khối lượng 1,0071g (một phẩy không không bảy một gam), loại Heroine.
  • Mẫu cục bột thu giữ trong túi nylon màu xanh bên ngoài cửa phòng vệ sinh căn phòng trọ, được niêm phong gửi giám định là ma túy; có khối lượng 1,6961g (một phẩy sáu chín sáu một gam), loại Heroine.
  • Mẫu tinh thể thu giữ trong túi nylon màu xanh bên ngoài cửa phòng vệ sinh căn phòng trọ được niêm phong gửi giám định là ma túy; có khối lượng 0,3529g (không phẩy ba năm hai chín gam), loại Methamphetamine.
  • Mẫu tinh thể trong nỏ thủy tinh để trong túi nylon màu xanh bên ngoài cửa phòng vệ sinh căn phòng trọ, được niêm phong gửi giám định là ma túy; có khối lượng 0,1214g (không phẩy một hai một bốn gam), loại Methamphetamine.

Heroine là chất ma túy, có tên khoa học là: Diacetylmorphine, nằm trong danh mục chất ma túy và tiền chất theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT: 247, Nghị định 57/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại Bản cáo trạng số 28/CT-VKSLĐ-LĐ ngày 08/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố:

Bùi Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Đỗ Thị Ngọc T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án, giữ nguyên bản cáo trạng truy tố các bị cáo và đề nghị:

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 và 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bùi Văn T từ 09 (chín) năm đến 10 (mười) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 03 (ba) đến 04 (bốn) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả 03 tội là từ 13 (mười ba) năm 06 (sáu) tháng đến 16 (mười sáu) năm tù.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đỗ Thị Ngọc T2 từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, từ 12 (mười hai) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 03 (ba) đến 04 (bốn) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả 03 tội là từ 12 (mười hai) năm đến 14 (mười bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

  • - Tuyên tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) phong bì được niêm phong số 449/KL-KTHS có chữ ký, họ tên của:Võ Như T4, Lại Thanh Anh T5, Ngô Văn N và đóng dấu niêm phong hình tròn, màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh L gồm: phong bì đựng đựng bao gói vật chứng trước giám định và phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 túi niêm phong mã số NS1 23001711 đựng: 01 (một) bao tay màu xanh,01 (một) hộp giấy hình trụ tròn màu cam có chữ "Lays", 01 (một) chai thủy tinh màu đen có chữ "CIO" trên nắp có gắn 02 (hai) ống hút, 01 bật lửa khò màu xanh; 01 túi niêm phong mã số NS1 23001710 đựng: 01 (một) túi nylon màu xanh; 01 (một) hộp kim loại màu đỏ, không có nắp hộp; 01 (một) kéo kim loại dạng gấp; 01 (một) hộp nhựa màu trắng có nắp đậy; 02 (hai) cân tiểu ly màu đen; 39 ống nhựa màu trắng một đầu hở, một đầu hàn kín; 02 ống nhựa một đầu cắt vát; 01 túi zíp màu đen; 01 hộp kim loại màu xanh; 01 nhíp kim loại một đầu cuốn băng keo đen có gắn ông nhựa màu trắng.
  • - Tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 2.160.000đ (hai triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, gắn sim số 0942886304; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, có bàn phím bấm, màu xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong gắn sim số 0971.540.267.
  • - Tuyên trả lại: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ, màn hình bị nứt vỡ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong gắn sim số 0333.925.485 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong gắn sim số 0911.815.988 cho bị cáo Đỗ Thị Ngọc T2; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, trên điện thoại có gắn 01 (một) ốp lưng màu nâu đen bằng nhựa có chữ "Ferrari" gắn sim số 0942.886.304 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu Gold đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong gắn sim số 0911.237.224 cho bị cáo Bùi Văn T.

Tại phiên tòa, các bị cáo không khiếu nại bản cáo trạng, xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

  2. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

    Căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 09 giờ ngày 23/4/2024, tại căn phòng không số thuộc dãy nhà trọ ở địa chỉ D P, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, Bùi Văn T đã có hành vi cất giữ trái phép 3,6388g (Ba phẩy sáu ba tám tám gam) ma tuý, loại Heroine mục đích vừa sử dụng vừa bán cho người khác kiếm lời; tàng trữ trái phép 0,7198g (không phẩy bảy một chín tám gam) ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng, ngoài ra T còn cung cấp ma tuý, dụng cụ sử dụng ma túy cho Đỗ Thị Ngọc T2 cùng sử dụng trái phép chất ma túy; Đỗ Thị Ngọc T2 biết được việc T phân chia, cất giữ 3,6388g (Ba phẩy sáu ba tám tám gam) ma tuý, loại Heroine để bán cho người khác và đã giúp T bán ma tuý cho 02 người; tàng trữ 0,5903g (không phẩy năm chín không ba gam) ma tuý, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng; chuẩn bị ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy để cùng T sử dụng trái phép chất ma túy vào sáng ngày 23/04/2024.

    Hành vi của bị cáo Bùi Văn T bị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Hành vi của bị cáo Đỗ Thị Ngọc T2 bị truy về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự như bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

    Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ và sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vì để có tiền mua ma túy và có ma túy để sử dụng các bị cáo vẫn thực hiện. Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội, đây cũng là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nên cần có mức án nghiêm, cách ly các bị cáo khỏi cuộc sống cộng đồng một thời gian nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

  3. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

    • Tình tiết tăng nặng: Không có.
    • Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo nên áp dụng cho các bị cáo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  4. Về vai trò của các bị cáo: Bị cáo T có vai trò chính trong vụ án, là người trực tiếp liện hệ mua ma túy, trực tiếp phân chia ma túy, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy nên áp dụng mức hình phạt cao hơn bị cáo T.

  5. Về xử lý vật chứng: Vật chứng thu giữ chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đ ngày 09/01/205, gồm:

    • - 02 (hai) phong bì được niêm phong số 449/KL-KTHS có chữ ký, họ tên của:Võ Như T4, Lại Thanh Anh T5, Ngô Văn N và đóng dấu niêm phong hình tròn, màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh L gồm: phong bì đựng đựng bao gói vật chứng trước giám định và phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 túi niêm phong mã số NS1 23001711 đựng: 01 (một) bao tay màu xanh,01 (một) hộp giấy hình trụ tròn màu cam có chữ "Lays", 01 (một) chai thủy tinh màu đen có chữ "CIO" trên nắp có gắn 02 (hai) ống hút, 01 bật lửa khò màu xanh; 01 túi niêm phong mã số NS1 23001710 đựng: 01 (một) túi nylon màu xanh; 01 (một) hộp kim loại màu đỏ, không có nắp hộp; 01 (một) kéo kim loại dạng gấp; 01 (một) hộp nhựa màu trắng có nắp đậy; 02 (hai) cân tiểu ly màu đen; 39 ống nhựa màu trắng một đầu hở, một đầu hàn kín; 02 ống nhựa một đầu cắt vát; 01 túi zíp màu đen; 01 hộp kim loại màu xanh; 01 nhíp kim loại một đầu cuốn băng keo đen có gắn ông nhựa màu trắng. Là những mẫu vật còn lại sau giám định và vật chứng không còn giá trị sử dụng nên tuyên tịch thu tiêu hủy.
    • - 2.160.000₫ (hai triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng) theo Giấy nộp trến ngày 09/01/2025 vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt là tiền bị cáo T4 có được khi bán ma túy nên tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
    • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, gắn sim số 0942886304 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, có bàn phím bấm, màu xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong gắn sim số 0971.540.267 của bị cáo T4 sử dụng vào việc phạm tội nên tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
    • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ, màn hình bị nứt vỡ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong gắn sim số 0333.925.485 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong gắn sim số 0911.815.988 của bị cáo Đỗ Thị Ngọc T2 không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
    • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, trên điện thoại có gắn 01 (một) ốp lưng màu nâu đen bằng nhựa có chữ "Ferrari" gắn sim số 0942.886.304 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu Gold đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong gắn sim số 0911.237.224 của bị cáo Bùi Văn T không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
  6. Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T và Đỗ Thị Ngọc T2 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy, “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

  2. Về hình phạt:

    1. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 và 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bùi Văn T 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả 03 tội là 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2024.
    2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đỗ Thị Ngọc T2 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả 03 tội là 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2024.
  3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:

    1. Tuyên tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) phong bì được niêm phong số 449/KL-KTHS có chữ ký, họ tên của:Võ Như T4, Lại Thanh Anh T5, Ngô Văn N và đóng dấu niêm phong hình tròn, màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh L gồm: phong bì đựng đựng bao gói vật chứng trước giám định và phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 túi niêm phong mã số NS1 23001711 đựng: 01 (một) bao tay màu xanh,01 (một) hộp giấy hình trụ tròn màu cam có chữ "Lays", 01 (một) chai thủy tinh màu đen có chữ "CIO" trên nắp có gắn 02 (hai) ống hút, 01 bật lửa khò màu xanh; 01 túi niêm phong mã số NS1 23001710 đựng: 01 (một) túi nylon màu xanh; 01 (một) hộp kim loại màu đỏ, không có nắp hộp; 01 (một) kéo kim loại dạng gấp; 01 (một) hộp nhựa màu trắng có nắp đậy; 02 (hai) cân tiểu ly màu đen; 39 ống nhựa màu trắng một đầu hở, một đầu hàn kín; 02 ống nhựa một đầu cắt vát; 01 túi zíp màu đen; 01 hộp kim loại màu xanh; 01 nhíp kim loại một đầu cuốn băng keo đen có gắn ông nhựa màu trắng.
    2. Tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 2.160.000₫ (hai triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng) theo Giấy nộp trến ngày 09/01/2025 vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt.
    3. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, gắn sim số 0942886304.
    4. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Mobell, có bàn phím bấm, màu xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong gắn sim số 0971.540.267.
    5. Tuyên trả lại: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đỏ, màn hình bị nứt vỡ, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong gắn sim số 0333.925.485 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xanh đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong gắn sim số 0911.815.988 cho bị cáo Đỗ Thị Ngọc T2.
    6. 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xanh đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong, trên điện thoại có gắn 01 (một) ốp lưng màu nâu đen bằng nhựa có chữ "Ferrari" gắn sim số 0942.886.304 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu Gold đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong gắn sim số 0911.237.224 cho bị cáo Bùi Văn T.

    (Tất cả vật chứng trên theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 09/01/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng).

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND thành phố Đà Lạt;
  • - Công an thành phố Đà Lạt;
  • - THA thành phố Đà Lạt;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Bộ phận THA phạt tù;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Hà Vân Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG về vụ án hình sự về tội mua bán, tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 35/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự về tội Mua bán, Tàng trữ và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 2.1. Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 và 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bùi Văn Th 08 (tám) năm tù về tội“Mua bán trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội“Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả 03 tội là 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2024. 2.2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249, khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đỗ Thị Ngọc Tr 07 (bảy) năm tù về tội“Mua bán trái phép chất ma túy”, 01 (một) năm tù về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội“Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cho cả 03 tội là 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/4/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger