|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2025/HS-ST Ngày: 26/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bảng - Cán bộ hưu trí; Bà Nguyễn Thị Biên - Cán bộ hưu trí;
Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo: Họ và tên: Hoàng Văn Đ, sinh năm 1991; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Bố: Hoàng Văn N, sinh năm 1955; Mẹ: Hoàng Thị D, sinh năm 1956; Gia đình có bốn anh chị em, bị cáo là thứ 4; Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 14/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn ra Quyết định số 14/QĐ-TA về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/11/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (Có mặt)
* Bị hại:
Anh Nguyễn Trọng N1, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn L, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Trọng H, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn L, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Ông Phạm Văn N2, sinh năm 1978 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố số C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Chị Ngô Thị L, sinh năm 1987 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố số C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang. - Ông Dương Văn C, sinh năm 1980 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn V, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 06/11/2024, Hoàng Văn Đ, sinh năm 1991, trú tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn đi taxi đến công trình xây dựng Ngân hàng chính sách và xã hội tỉnh B trên địa bàn phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang mục đích để xin việc làm. Động được anh Dương Văn C, sinh năm 1980, trú tại thôn V, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang thuê làm thợ sắt rồi trả 550.000 đồng tiền taxi cho Đ. Buổi tối cùng ngày, anh C nghi vấn Động có biểu hiện trộm cắp tài sản nên không thuê làm việc nữa.
Khoảng hơn 07 giờ ngày 07/11/2024, Hoàng Văn Đ đi đến hầm để xe của Đại lý V, Lô A, khu đô thị phía nam thuộc thôn (nay là tổ dân phố) X, xã (nay là phường) T, thành phố B thì nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave mầu trắng, biển kiểm soát 98B2-594.35 dựng ở đó nên nảy sinh ý định trộm cắp. Trên xe có treo 01 áo chống nắng mầu xanh và 01 chiếc mũ bảo hiểm mầu đen; bên trong cốp xe có 01 chiếc ví da, 01 bằng lái xe ô tô hạng C, 01 căn cước công dân, 01 thẻ ATM ngân hàng V1 đều mang tên Nguyễn Trọng N1. Quan sát xung quanh không có người trông coi, Đ lấy trong túi áo ra chiếc chìa khoá tra vào ổ khoá điện và vặn nhiều lần thì mở được khoá xe.
Động điều khiển xe đi đến nhà anh Phạm Văn N2, sinh năm 1978, trú tại Tổ dân phố số C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang để vay tiền. Động gặp chị Ngô Thị L, sinh năm 1987 là vợ anh N2 đặt vấn đề vay tiền và đặt lại chiếc xe mô tô làm tin. Do anh N2 không có nhà nên chị L gọi điện cho anh N2 hỏi ý kiến thì anh N2 đồng ý cho Đ vay 1.500.000 đồng. Chị L đưa cho Đ số tiền 1.500.000 đồng. Động để lại chiếc xe kèm theo chìa khoá điện ở sân nhà anh N2 rồi đi bộ đến khu vực ngã tư thị trấn K, huyện L thì vứt mũ bảo hiểm và áo chống nắng ở ven đường. Đến ngày 10/11/2024, Đ đến nhà anh N2 hỏi vay thêm tiền và được anh N2 cho vay 300.000 đồng. Động đã chi tiêu hết toàn bộ số tiền cầm cố xe. Ngày 11/11/2024, anh Nguyễn C1 đơn trình báo Công an thành phố B.
Ngày 12/11/2024, anh Phạm Văn N2 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98B2-594.35, kiểm tra bên trong cốp xe có 01 ví da, 01 giấy phép lái xe hạng C, 01 căn cước công dân, 01 thẻ ATM ngân hàng V1 mang tên Nguyễn Trọng Nguyễn K theo 01 chùm chìa khoá.
Kết luận định giá tài sản số 277/KL-HD ngày 18/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 98B2-594.35, máy:HC12E7099464, Số khung: 1257F Y099399, mua mới năm 2016, đã qua sử dụng, thời điểm ngày 07/11/2014, trị giá 10.000.000 đồng; 01 ví da, dạng ví gấp màu nâu mua mới năm 2020 đã qua sử dụng, thời điểm ngày 07/11/2014, trị giá 20.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 324/KL-HD ngày 26/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: 01 áo chống nắng mầu xanh, mua mới khoảng tháng 10/2024, đã qua sử dụng, thời điểm ngày 07/11/2014 trị giá 90.000 đồng; 01 mũ bảo hiểm mầu đen, mua mới khoảng tháng 01/2024 đã qua sử dụng, thời điểm ngày 07/11/2014 trị giá 50.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là: 10.160.000 đồng.
Ngày 13/11/2024, Cơ quan điều tra triệu tập Hoàng Văn Đ để làm việc, Đ đầu thú và khai nhận hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô như nêu trên.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định 04 file video do chị Ngô Thị L giao nộp và 03 file video do anh Thân Văn H1 nộp có ghi lại diễn biến sự việc Động trộm cắp chiếc xe mô tô và đem đến nhà anh N2 cầm cố vay tiền.
Kết luận giám định số 2607/KL-KTHS ngày 10/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:
- Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các file video được lưu giữ trong 02 đĩa DVD-R gửi giám định.
- Trích xuất được 18 hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong các file video gửi giám định.
Cơ quan điều tra đã cho bị can Đ quan sát bản ảnh trích xuất từ các file video nêu trên. Động xác định có hình ảnh Đ đi vào hầm để xe của Công ty V2 dùng tay mở khoá điện trộm cắp chiếc xe mô tô biển số 98B2-594.35 của anh N2; hình ảnh Đ điều khiển xe đến nhà anh N2 gặp chị L đặt lại chiếc xe vay tiền và đi bộ ra về.
* Tại Bản cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 16 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố Hoàng Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
* Quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu, bị cáo không đề nghị trả lại 02 chìa khóa bằng kim loại nhãn hiệu Việt Tiệp, bị cáo đồng ý trả lại cho anh N2 số tiền 1.800.000 đồng.
* Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Bị cáo nhất trí và không có ý kiến gì.
* Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi, nhân thân của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ từ 9 tháng tù đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian tù tính từ ngày 13/11/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 579; Điều 580 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải hoàn trả cho anh Phạm Văn N2 số tiền 1.800.000 đồng.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 chùm chìa khóa đã qua sử dụng gồm 01 chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Honda và 02 chìa khóa bằng kim loại nhãn hiệu Việt Tiệp.
- Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
* Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận, rất ăn năn hối hận về hành vi của bản thân, đề nghị Hội đồng xét xử cho hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để có cơ hội cải sửa bản thân, trở thành công dân có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên trong hồ sơ đã có lời khai những người này, bị cáo có mặt tại phiên tòa đề nghị tiếp tục xét xử và xét thấy việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.
[3] Về tội danh của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và thừa nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 07 giờ ngày 07/11/2024, Hoàng Văn Đ đi đến hầm để xe của Đại lý V, Lô A, khu đô thị phía nam thuộc thôn X, xã T, thành phố B trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98B2-594.35 trị giá 10.000.000 đồng, trên xe có 01 chiếc mũ bảo hiểm trị giá 50.000 đồng, 01 chiếc áo chống nắng trị giá 90.000 đồng; bên trong cốp xe có 01 ví da trị giá 20.000 đồng và 01 thẻ ATM, 01 Căn cước công dân, 01 giấy phép lái xe hạng C của anh Nguyễn Trọng N1. Tổng trị giá tài sản trộm cắp là 10.160.000 đồng. Động cầm cố xe cho anh Phạm Văn N2 trú tại Tổ dân phố số C, thị trấn K, huyện L được 1.800.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết. Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là đúng người, đúng tội và có căn cứ.
[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật trị an xã hội và hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã 01 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do vậy, cần phải xét xử bị cáo bằng pháp luật hình sự, áp dụng hình phạt tù giam có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội mới đảm bảo giáo dục bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật và phòng ngừa chung.
[5] Xét về các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đầu thú quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Căn cứ tính chất hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, nhận thấy mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đề nghị là phù hợp nên cần chấp nhận.
[7] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Anh Phạm Văn N2 yêu cầu bị cáo phải trả lại cho anh số tiền 1.800.000 đồng là tiền anh N2 đã cho bị cáo vay, xác định đây là yêu cầu chính đáng, đủ căn cứ nên áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 579; Điều 580 Bộ luật dân sự, buộc bị cáo phải hoàn trả cho anh Phạm Văn N2 số tiền 1.800.000 đồng.
[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 01 chùm chìa khóa đã qua sử dụng gồm 01 chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Honda và 02 chìa khóa bằng kim loại nhãn hiệu Việt Tiệp.
[10] Đánh giá những tình tiết khác của vụ án:
- Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Nguyễn Trọng N1 chiếc xe mô tô biển số 98B2-594.35 kèm theo 01 ví da, 01 giấy phép lái xe hạng C, 01 căn cước công dân, 01 thẻ ATM ngân hàng V1. Anh Nguyễn K1 yêu cầu bồi thường về dân sự.
- Đối với chiếc áo dài tay mầu xanh và chiếc mũ bảo hiểm: Theo Đ khai đã vứt đi nhưng không nhớ địa điểm cụ thể nên không thu hồi được.
- Anh Dương Văn C đã trả cho bị cáo Đ 550.000 đồng tiền thuê xe taxi nhưng không yêu cầu Đ trả lại; Chị Ngô Thị L đã được anh N2 trả số tiền 1.500.000 đồng đưa cho Đ vay nên không yêu cầu bồi thường.
- Đối với chị Ngô Thị L, anh Phạm Văn N2 cho Hoàng Văn Đ nhận cầm cố chiếc xe mô tô và cho vay tiền nhưng không biết là tài sản do Đ phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý.
[11] Về án phí: Do bị cáo là người dân tộ thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
[13] Hội đồng xét xử tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 50; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt:
Bị cáo Hoàng Văn Đ 9 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 13/11/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 1 Điều 579; Điều 580 Bộ luật dân sự buộc bị cáo phải hoàn trả cho anh Phạm Văn N2 số tiền 1.800.000 đồng (Một triệu tám trăm nghìn đồng).
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 01 chùm chìa khóa đã qua sử dụng gồm 01 chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Honda và 02 chìa khóa bằng kim loại nhãn hiệu Việt Tiệp.
- Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hải Yến |
Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 35/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Hoàng Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản
