|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án: 35/2025/HSST Ngày: 26 - 02 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Sơn
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Dương Thanh Cảnh
Bà Nguyễn Thị Quế Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Chương Thị Thu H; tên gọi khác: không; sinh ngày: 14/9/1997 tại huyện C, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: bản Đ, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chương Văn X và bà Lương Thị H1; chồng, con: không; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/7/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: ông Nguyễn Văn H2 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh N. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- + Anh Lê Văn D, sinh năm 1995; nơi cư trú: bản Đ, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Chị Viềng Thị Y V, sinh năm 2000; nơi cư trú: bản Đ, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Anh Vi Văn N, sinh năm 1989; nơi cư trú: bản M, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Anh Kha Văn B, sinh năm 1992; bản Xiềng, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Chị Bùi Thị Chính C, sinh năm 1995; bản Đình, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Chị Kha Thị H3, sinh năm 1985; bản Nà Cọ, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Anh Lương Văn C1, sinh năm 2003; nơi cư trú: bản X, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Anh Lương Văn C2, sinh năm 1992; nơi cư trú: bản Đ, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Anh Kha Văn V1, sinh năm 1986; bản Nà Cọ, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Chị Lô Thị X1, sinh năm 1995; nơi cư trú: thôn H, xã Đ, huyện C, tỉnh Nghệ An; Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- + Chị Vi Thị V2, sinh năm 1992; nơi cư trú: bản M, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.
- + Anh Kha Văn T, sinh năm 1999; nơi cư trú: bản M, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.
- + Chị Vi Thị T1, sinh năm 1999; nơi cư trú: bản M, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.
- + Anh Chương Văn T2, sinh năm 1995; nơi cư trú: bản Đ, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; Có mặt.
- + Chị Lô Thị H4, sinh năm 1998; nơi cư trú: bản Đ, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người làm chứng:
- + Anh Lương Văn S, sinh năm: 1981; nơi cư trú: bản N, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.
- + Anh Vi Quốc D1, sinh năm 1994; nơi cư trú: bản Đ, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.
- + Chị Kha Thị Ánh N1, sinh năm 1996; nơi cư trú: bản M, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.
- + Chị Chương Thị T3, sinh năm 1988; nơi cư trú: bản Đ, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 26/8/2023, Chương Thị Thu H xuất cảnh từ Việt Nam rồi nhập cảnh vào nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào (CHDCND Lào) đến Đặc khu kinh tế Tam Giác Vàng của người Trung Quốc thuộc tỉnh Bokeo làm việc trong một quán Bar. Tại đây Chương Thị Thu H gặp và quen người đàn ông Trung Quốc tên là "Xài", sau đó "Xài" nhận H làm bạn gái và chung sống với nhau.
Khoảng tháng 12 năm 2023, "Xài" nói với H cần người Việt Nam sang CHDCND Lào làm việc. "Xài" giới thiệu cho H một người đàn ông Trung Quốc tên là "K" làm quản lý Công ty lừa đảo thuộc Đặc khu kinh tế. Sau đó, "Khải" thỏa thuận với Chương Thị Thu H nội dung “Chương Thị Thu H đưa một người Việt Nam sang bán cho K, K sẽ trả cho Chương Thị Thu H số tiền 5.000 Nhân dân tệ tiền Trung Quốc (tương đương khoảng 15.000.000 đồng tiền Việt Nam)/một người”, H đồng ý và nảy sinh ý định tìm những người thân, người quen, bạn bè tại các xã trên địa bàn huyện C, tỉnh Nghệ An đưa sang nước CHDCND Lào, bán cho người đàn ông Trung Quốc tên “Khải” để lấy tiền tiêu xài cá nhân.
Từ tháng 02 năm 2024, Chương Thị Thu H sử dụng tài khoản facebook tên “Hiền My M” để liên lạc, tìm người ở xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An, trao đổi lừa đi sang nước Thái Lan bán vé số qua mạng với mức lương 17.000.000 đồng/01 tháng hoặc sang CHDCND Lào làm phiên dịch. Thực tế sau khi tìm được người, Chương Thị Thu H đưa sang nước Lào chuyển giao lại cho người đàn ông Trung Quốc tên "K" để lấy tiền. Cụ thể:
Chương Thị Thu H liên hệ với Lô Thị X1, sinh năm 1995, trú tại bản H, xã Đ, huyện C, tỉnh Nghệ An rủ sang làm phiên dịch ở đặc khu kinh tế nước CHDCND Lào với mức lương 10.000 nhân dân tệ/1 tháng, Lô Thị X1 đồng ý. Sau đó, H liên lạc với Kha Thị Ánh N1, sinh năm 1996, trú tại bản Mét, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An làm hộ chiếu cho Lô Thị X1.
Ngày 08/3/2024, Chương Thị Thu H hướng dẫn Lô Thị X1 đến ngã ba D thuộc thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An, H mua vé xe khách đưa Lô Thị X1 xuất cảnh qua Cửa khẩu quốc tế T5, tỉnh Điện Biên đến tỉnh Bokeo, nước CHDCND Lào. Chương Thị Thu H đón Lô Thị X1 đưa vào tòa nhà 21 tầng, khu C của đặc khu kinh tế rồi chuyển giao Lô Thị X1 cho người đàn ông Trung Quốc tên "Khải", sau đó K trả cho Chương Thị Thu H 5.000 Nhân dân tệ tiền Trung Quốc (tương đương khoảng 15.000.000 đồng). Chi phí đưa Lô Thị X1 sang nước Lào hết 7.200.000 đồng; còn lại 7.800.000 đồng H hưởng lợi.
Chương Thị Thu H tiếp tục sử dụng tài khoản facebook messenger “Hiền My M” liên hệ với 08 người gồm: Chương Văn T2 (anh trai H), sinh năm 1995; Lô Thị H4 (chị dâu H), sinh năm 1998; Lê Văn D, sinh năm 1994; Viềng Thị Y V, sinh năm 2000 cùng trú tại bản Đình, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An và Vi Văn N, sinh năm 1989; Vi Thị V2, sinh năm 1992; Kha Văn T, sinh năm 1999; Vi Thị T1, sinh năm 2003 cùng trú tại bản Mét, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An với nội dung “đi bán vé xổ số trên mạng ở nước Thái Lan, lương tháng 17.000.000 đồng”. Tất cả 08 người trên đồng ý. Sau đó, H liên lạc với Kha Thị Ánh N1 làm hộ chiếu cho 08 người trên.
Ngày 21/3/2024, Chương Thị Thu H liên lạc với chị Chương Thị T3, sinh năm 1988, trú tại bản Đình, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An làm nghề lái xe taxi chở 08 người trên đến ngã ba D thuộc thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Chương Thị Thu H đặt xe khách “Thanh Hà” xuất cảnh qua Cửa khẩu quốc tế T5, tỉnh Điện Biên đưa 08 người này sang tỉnh Bokeo, nước CHDCND Lào. Chương Thị Thu H và người đàn ông Trung Quốc tên "Xài" đón 08 người này đưa đến tòa nhà 21 tầng, khu C, Đặc khu kinh tế của người Trung Quốc. Sau đó, Chương Thị Thu H chuyển giao 08 người này cho người đàn ông Trung Quốc tên "Khải". Khoảng 3 ngày sau, "Khải" trả tiền cho Chương Thị Thu H theo đúng thỏa thuận trước đây 5.000 Nhân dân tệ tiền T4 Quốc/01 người, tổng số tiền là 5.000 nhân dân tệ x 8 = 40.000 nhân dân tệ tiền Trung Quốc (tương đương khoảng 120.000.000 đồng). Chi phí để đưa 08 người trên sang nước Lào với số tiền hết 28.100.000 đồng; còn lại 91.900.000 đồng H hưởng lợi.
Cũng từ tài khoản facebook messenger “Hiền M My”, Chương Thị Thu H tiếp tục liên hệ với 02 người là Kha Thị H3, sinh năm 1985 và Kha Văn V1, sinh năm 1986 cùng trú tại bản N, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An với nội dung “đi sang nước Thái Lan bán vé số trên mạng với lương 17.000.000 đồng/01 tháng, Kha Thị H3 và Kha Văn V1 đồng ý.
Ngày 22/3/2024, Chương Thị Thu H liên lạc, thuê anh Lương Văn S, sinh năm 1981, trú tại bản N, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An làm nghề lái xe taxi chở Kha Thị H3 và Kha Văn V1 đến thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Sau đó, H thuê xe ô tô 16 chỗ “Lâm Huy” chở Kha Văn V1, Kha Thị H3 xuất cảnh qua Cửa khẩu quốc tế T5, tỉnh Điện Biên đến đặc khu kinh tế của người Trung Quốc thuộc tỉnh Bokeo, nước Lào. Chương Thị Thu H và người đàn ông Trung Quốc tên "Xài" đón rồi đưa về tòa nhà 21 tầng, khu C của Đặc khu kinh tế. Chương Thị Thu H chuyển giao Kha Văn V1 và Kha Thị H3 cho người đàn ông Trung Quốc tên "Khải". "K" trả cho Chương Thị Thu H số tiền 10.000 Nhân dân tệ tiền Trung Quốc (tương đương khoảng 30.000.000 đồng). Chi phí để đưa Kha Văn V1 và Kha Thị H3 sang nước CHDCND Lào hết là 12.000.000 đồng, còn lại 18.000.000 đồng H hưởng lợi.
Ngày 23/3/2024, Chương Thị Thu H tiếp tục liên lạc với 02 người là Bùi Thị Chinh C3, sinh năm 1995 và Lương Văn C2, sinh năm 1992 cùng trú tại bản Đình, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An với nội dung “đi sang nước Lào làm việc bán vé số qua mạng lương 17.000.000 đồng/01 tháng”, Bùi Thị Chinh C3 và Lương Văn C2 đồng ý.
Ngày 25/3/2024, Chương Thị Thu H thuê anh Vi Quốc D1, sinh năm 1994, trú tại bản Đình, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An làm nghề lái xe taxi chở Bùi Thị Chinh C3 và Lương Văn C2 đến ngã ba D thuộc thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An sau đó Chương Thị Thu H đặt xe khách “Thanh Hà” đưa Bùi Thị Chinh C3 và Lương Văn C2 xuất cảnh qua Cửa khẩu quốc tế T5, tỉnh Điện Biên đến đặc khu kinh tế của người Trung Quốc thuộc tỉnh Bokeo, nước CHDCND Lào. Chương Thị Thu H đón Bùi Thị Chinh C3, Lương Văn C2 đưa đến tòa nhà 21 tầng, khu C của đặc khu kinh tế, sau đó chuyển giao Bùi Thị Chinh C3 và Lương Văn C2 cho người đàn ông Trung Quốc tên "Khải". "K" trả cho Chương Thị Thu H 10.000 Nhân dân tệ tiền Trung Quốc (tương đương khoảng 30.000.000 đồng). Chi phí để đưa Bùi Thị Chinh C3 và Lương Văn C2 sang nước Lào hết 5.000.000 đồng, còn lại 25.000.000 đồng H hưởng lợi.
Trong tháng 5 năm 2024, Chương Thị Thu H tiếp tục liên lạc với Kha Văn B, sinh năm 1992 và Lương Văn C1, sinh năm 2003 cùng trú tại bản Xiềng, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An với nội dung “ đi sang nước Lào lập facebook để nhắn tin trên mạng, lương tháng 17.000.000 đồng”, Kha Văn B và Lương Văn C1 đồng ý.
Ngày 12/5/2024, Kha Văn B và Lương Văn C1 bắt xe khách đến ngã ba D thuộc thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An, sau đó Chương Thị Thu H đặt vé xe “T” cho Kha Văn B, Lương Văn C1 xuất cảnh qua Cửa khẩu quốc tế T5, tỉnh Điện Biên đến đặc khu kinh tế của người Trung Quốc thuộc tỉnh Bokeo, nước CHDCND Lào. Chương Thị Thu H và người đàn ông Trung Quốc tên "Khải" đến đón Kha Văn B và Lương Văn C1, đưa đến tòa nhà 21 tầng, khu C của Đặc khu kinh tế. Chương Thị Thu H chuyển giao Kha Văn B và Lương Văn C1 cho "Khải". "K" trả cho Chương Thị Thu H 10.000 Nhân dân tệ tiền Trung Quốc (tương đương khoảng 30.000.000 đồng). Chi phí để đưa Kha Văn B và Lương Văn C1 sang nước CHDCND Lào hết 4.000.000 đồng, còn lại 26.000.000 đồng H hưởng lợi.
Tại đặc khu kinh tế thuộc tỉnh Bokeo, nước CHDCND Lào, 15 người trên không được làm công việc như Chương Thị Thu H đã hứa (bán vé số trên mạng, lương 17.000.000 đồng/01 tháng) mà bị người đàn ông Trung Quốc tên "Khải" đưa vào Công ty của "Khải". "Khải" phát cho mỗi người từ 03 đến 04 điện thoại di động thông minh (hệ điều hành Android) và một máy tính bàn, hướng dẫn cho mọi người lập các tài khoản facebook, zalo ảo để tìm các đối tượng khoảng 30 tuổi trở lên, nhắn tin tình cảm rồi thao túng tâm lý, dụ dỗ nộp tiền vào các app, sàn chứng khoán... nhằm chiếm đoạt tài sản.
Quá trình chuyển giao 15 người có lý lịch nêu trên, Chương Thị Thu H bỏ ra chi phí làm hộ chiếu và tiền xe đi lại với số tiền là 56.300.000 đồng. "K" trả cho Chương Thị Thu H số tiền 75.000 nhân dân tệ tiền Trung Quốc (tương đương khoảng 225.000.000 đồng). Chương Thị Thu H hưởng lợi số tiền 168.700.000 đồng. Tuy nhiên, theo hợp đồng giữa Chương Thị Thu H và "Khải" thì những người được H bán sang Lào để làm việc cho "Khải" phải làm trên 06 tháng, nếu không H phải trả lại cho "Khải" 5000 nhân dân tệ/người (tương đương khoảng 15.000.000 đồng). Sau đó, có 04 người gồm: Vi Thị T1, Vi Thị V2, Kha Thị H3, Lô Thị H4 do nhiều lý do khác nhau đều không làm việc được quá 06 tháng nên Chương Thị Thu H đã trả lại cho "Khải" 60.000.000 đồng; 08 người bỏ trốn khỏi đặc khu gồm: Bùi Thị Chinh C3, Lương Văn C2, Kha Văn V1, Lê Văn D, Viềng Thị Y V, Kha Văn T, Kha Văn B, Lương Văn C1 (đã làm việc 04 tháng) nên Chương Thị Thu H tiếp tục phải trả lại cho "Khải" 5000 nhân dân tệ/người (tương đương 120.000.000 đồng). Ngoài ra, có 03 người: Chương Văn T2, Lô Thị X1, Vi Văn N về sau (cũng chưa đủ 06 tháng) nên "Khải" yêu cầu Chương Thị Thu H đền bù 4.000 nhân dân tệ/người. Chương Thị Thu H đã trả lại cho "Khải" tương đương 36.000.000 đồng. Như vậy, trên thực tế Chương Thị Thu H không được hưởng lợi gì từ việc lừa bán 15 người Việt Nam sang nước CHDCND Lào nêu trên.
Sau đó, Vi Thị T1 bị ốm và Kha Thị H3, Vi Thị V2 không làm được việc nên ngày 07/6/2024 đã nhập cảnh về Việt Nam.
Ngày 06/7/2024, 05 người gồm: Chương Văn T2, Lô Thị H4, Lô Thị X1, Vi Văn N, Kha Văn T đã nhập cảnh về Việt Nam.
Ngày 11/7/2024, Đồn Biên phòng Cửa khẩu Quốc tế C4 phối hợp với Tổ chức Trẻ em Rồng xanh giải cứu về Việt Nam 07 người gồm: Lương Văn C2, Bùi Thị Chinh C3, Kha Văn B, Lương Văn C1, Lê Văn D, Viềng Thị Y V và Kha Văn V1.
Ngày 22/7/2024, Lương Văn C2 và Kha Văn B đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Nghệ An tố cáo hành vi Chương Thị Thu H đã lừa Lương Văn C2, Kha Văn B và 13 người còn lại có lý lịch nêu trên sang nước CHDCND Lào bán lấy tiền. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã triệu tập Chương Thị Thu H làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Chương Thị Thu H xin đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng vụ án Cơ quan điều tra thu giữ gồm: 01 (một) Điện thoại di động có đặc điểm: Nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh dương, số Imei: 357569693305214; Máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong của máy, thu giữ của bị can Chương Thị Thu H.
Bản cáo trạng số 41/CT-VKSNA-P2 ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Chương Thị Thu H về tội “Mua bán người” theo điểm đ khoản 3 Điều 154 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm đ khoản 3 Điều 150; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Chương Thị Thu H từ 13 đến 14 năm tù về tội “Mua bán người”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23 tháng 7 năm 2024.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có công việc ổn định, khôn có nhiều tài sản nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về biện pháp tư pháp: xét bị cáo không được hưởng lợi gì từ hành vi phạm tội của mình, đề nghị hội đồng xét xử không truy thu số tiền Chương Thị Thu H hưởng lợi bất chính từ hành vi phạm tội.
Hủy bỏ Lệnh phong tỏa Tài khoản số 2578/LPT-CSHS ngày 07/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, trả lại cho Chương Thị Thu H số tiền: 385.221.449₫ (Ba trăm tám mươi lăm triệu hai trăm hai mươi mốt nghìn bốn trăm bốn mươi chín đồng).
Về vật chứng: 01 (một) Điện thoại di động có đặc điểm: Nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh dương, số Imei: 357569693305214; Máy đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong của máy, thu giữ của bị cáo Chương Thị Thu H là công cụ hiền sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Về dân sự: bị cáo đã bồi thường cho các bị hại, các bị hại không có yêu cầu nên miễn xét.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Người bào chữa cho bị cáo Chương Thị Thu H đề nghị: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội nên không tranh luận về tội danh mà bị cáo bị truy tố và xét xử. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, ở địa bàn vùng sâu, vùng xa khiến cho nhận thức về pháp luật bị hạn chế. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo đã tự nguyện đầu thú, chủ động tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho các bị hại nên đề nghị hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo ở mức hình phạt thấp hơn đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát.
- Bị cáo Chương Thị Thu H đồng ý kiến tranh luận, bào chữa của luật sư về tội danh, hình phạt và không tranh luận với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: bị cáo ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa các bị hại Lê Văn D, Viềng Thị Y V, Vi Văn N, Kha Văn B, Bùi Thị Chinh C3, Kha Thị H3, Lương Văn C1, Lương Văn C2, Kha Văn V1, Lô Thị X1 có đơn xin xét xử vắng mặt, các bị hại Kha Văn T, Vi Thị T1, Chương Văn T2, người làm chứng Lương Văn S, Vi Quốc D1, Kha Thị Ánh N1, Chương Thị T3 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đều đề nghị hội đồng xét xử tiếp tục xét xử. Xét thấy, sự vắng mặt của các bị hại nêu trên không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Chương Thị Thu H thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để kết luận:
Tháng 8 năm 2023, Chương Thị Thu H lao động tại nước Cộng Hòa D nhân dân Lào (CHDCND Lào), có quen và biết 02 người đàn ông quốc tịch Trung Quốc tên là "Xài" làm chủ và người đàn ông tên "K" làm quản lý của Công ty hoạt động trong lĩnh vực Game lừa đảo qua mạng, tại đặc khu kinh tế BoKeo đang cần người lao động. Chương Thị Thu H đã tìm kiếm và lừa người Việt Nam sang Lào làm việc cho "Xài" và "Khải" để hưởng lợi bất chính.
Từ tháng 02 đến tháng 5 năm 2024, Chương Thị Thu H đã nhiều lần dụ dỗ, hứa hẹn, lừa dối và thuê xe đưa 15 bị hại gồm: Lô Thị X1, sinh năm 1995; Chương Văn T2, sinh năm 1995; Lô Thị H4, sinh năm 1998; Lê Văn D, sinh năm 1994; Viềng Thị Y V, sinh năm 2000; Vi Văn N, sinh năm 1989; Vi Thị V2, sinh năm 1992; Kha Văn T, sinh năm 1999; Vi Thị T1, sinh năm 2003; Kha Thị H3, sinh năm 1985; Kha Văn V1, sinh năm 1986; Bùi Thị Chinh C3, sinh năm 1995; Lương Văn C2, sinh năm 1992; Kha Văn B, sinh năm 1992; Lương Văn C1, sinh năm 2003, xuất cảnh qua Cửa khẩu Quốc tế T5, tỉnh Điện Biên sang chuyển giao cho người đàn ông tên "Xài" và "Khải" tại Đặc khu kinh tế Bo Keo, nước CHDCND Lào. Chương Thị Thu H đã nhiều lần nhận từ "Khải" tổng số tiền 75.000 Nhân dân tệ tiền Trung Quốc, tương đương 225.000.000 đồng. Trong đó, H đã chi phí làm hộ chiếu và tiền thuê xe đi lại hết 56.300.000 đồng. Còn lại 168.700.000 đồng H hưởng lợi. Quá trình làm việc, "Xài" và "Khải" đã khống chế, ép người lao động Việt Nam làm việc trái ý muốn, vi phạm pháp luật.
Trong tháng 6 và tháng 7 năm 2024, các bị hại về Việt Nam và làm đơn tố cáo hành vi mua bán người của Chương Thị Thu H.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán người” với tình tiết định khung là “đối với từ 06 người trở lên”. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Chương Thị Thu H về tội “Mua bán người” theo điểm đ khoản 3 Điều 150 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo:
Hành vi phạm tội củ bị cáo Chương Thị Thu H là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng. Bị cáo đã lợi dụng hoàn cảnh khó khăn, hiểu biết hạn chế của bị cáo với mong muốn tìm việc làm để có thu nhập đã đưa các bị hại sang Lào chuyển cho người đàn ông Trung Quốc để hưởng lợi bất chính. Bị cáo nhận thức rõ việc làm của bị cáo là sai trái, nhưng vì muốn hưởng lợi bất chính nên vẫn cố ý thực hiện thành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền tự do, danh dự, nhân phẩm của công dân được pháp luật bảo vệ, gây dư luận xấu, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo đã 05 lần lừa dối và đưa 15 bị hại xuất cảnh qua Cửa khẩu Quốc tế T5, tỉnh Điện Biên sang nước CHDCND Lào chuyển giao cho người đàn ông Trung Quốc nhằm hưởng lợi bất chính nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thuộc trường hợp “phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đầu thú; trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tác động gia đình khắc phục, bồi thường thiệt hại cho các bị hại; nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng sâu, vùng xa, hiểu biết pháp luật hạn chế; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: bị cáo Chương Thị Thu H, không có việc làm ổn định, không có nhiều tài sản, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[5] Về biện pháp tư pháp: trong vụ án này sau khi trừ đi các chi phí làm hộ chiếu và thuê xe đi lại cho các bị hại, bị cáo H đã hưởng lợi bất chính 168.700.000 đồng. Tuy nhiên, theo hợp đồng giữa Chương Thị Thu H và "Khải" thì những người được H bán sang Lào để làm việc cho "Khải" phải làm trên 06 tháng, nếu không H phải trả lại cho "Khải" 5000 nhân dân tệ/người (tương đương khoảng 15.000.000 đồng). Sau đó, có 04 người gồm: Vi Thị T1, Vi Thị V2, Kha Thị H3, Lô Thị H4 do nhiều lý do khác nhau đều không làm việc được quá 06 tháng nên Chương Thị Thu H đã trả lại cho "Khải" 60.000.000 đồng; 08 người bỏ trốn khỏi đặc khu gồm: Bùi Thị Chinh C3, Lương Văn C2, Kha Văn V1, Lê Văn D, Viềng Thị Y V, Kha Văn T, Kha Văn B, Lương Văn C1 (đã làm việc 04 tháng) nên Chương Thị Thu H tiếp tục phải trả lại cho "Khải" 5000 nhân dân tệ/người (tương đương 120.000.000 đồng); 03 người: Chương Văn T2, Lô Thị X1, Vi Văn N về sau (cũng chưa đủ 06 tháng) nên "Khải" yêu cầu Chương Thị Thu H đền bù 4.000 nhân dân tệ/người, tương đương 36.000.000 đồng. Thực tế Chương Thị Thu H không được hưởng lợi gì từ việc lừa bán 15 người Việt Nam sang nước CHDCND Lào. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc không truy thu số tiền thu lợi bất chính từ bị cáo Chương Thị Thu H là phù hợp nên chấp nhận.
[6] Đối với số tiền 385.221.449 đồng mà bị cáo Chương Thị Thu H bị phong khỏa tại tài khoản Ngân hàng N2 chi nhánh C5 - T Nghệ An theo Lệnh phong tỏa Tài khoản số 2578/LPT-CSHS ngày 07/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N. Qua điều tra và xét hỏi công khai tại phiên tòa xác định: số tiền này là tài sản riêng của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, do đó cần phải trả lại cho bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An là phù hợp.
[7] Về trách nhiệm dân sự: các bị hại đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu bồi thường nên không xét.
[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp
[9] Về các nội dung khác của vụ án:
Đối với anh Vi Quốc D1, sinh năm 1994, trú tại bản Đình, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An, anh Lương Văn S, sinh năm 1981, trú tại bản N, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An; chị Chương Thị T3, sinh năm 1988, trú tại bản Đình, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An là những người lái xe taxi được Chương Thị Thu H thuê chở các bị hại và chị Kha Thị Ánh N1, sinh năm 1996, trú tại bản Mét, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An là người được Chương Thị Thu H thuê làm hộ chiếu cho các bị hại.
Chương Thị Thu H đã chi trả cho Vi Quốc D1 1.200.000 đồng; Lương Văn S 1.000.000 đồng, Chương Thị T3 1.500.000 đồng và Kha Thị Ánh N1 7.500.000 đồng. Kết quả điều tra xác định Vi Quốc D1, Lương Văn S, Chương Thị T3, Kha Thị Ánh N1 không biết, không được bàn bạc, không tham gia vào việc Chương Thị Thu H lừa bán các bị hại nên hành vi của Vi Quốc D1, Lương Văn S, Chương Thị T3, Kha Thị Ánh N1 không có căn cứ để xử lý.
Đối với người đàn ông Trung Quốc tên "Xài" và "K" ở CHDCND L mà Chương Thị Thu H đã liên lạc, thống nhất chuyển giao 15 bị hại bán cho "Xài" và "Khải", hiện tại không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
[10] Về vật chứng vụ án: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh dương, máy đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Chương Thị Thu H là công cụ bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội.
[11] Về án phí: buộc bị cáo Chương Thị Thu H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm đ khoản 3 Điều 150; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Chương Thị Thu H 13 (mười ba) năm tù về tội “Mua bán người”. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 23/7/2024. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Chương Thị Thu H.
2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu xanh dương, máy đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo Chương Thị Thu H.
Tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận ngày 17/01/2025, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
3. Hủy bỏ Lệnh phong tỏa Tài khoản số 2578/LPT-CSHS ngày 07/10/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N. Trả lại cho Chương Thị Thu H số tiền: 385.221.449₫ (Ba trăm tám mươi lăm triệu hai trăm hai mươi mốt nghìn bốn trăm bốn mươi chín đồng) trong tài khoản: 3616666797888 tại Ngân hàng N2 chi nhánh C5 - Tây N của Chương Thị Thu H.
4. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Chương Thị Thu H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Chương Thị Thu H, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Sơn |
Bản án số 35/2025/HSST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về mua bán người (human trafficking)
- Số bản án: 35/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán người (Human Trafficking)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chương Thị Thu Hiền - Mua bán người - điểm đ khoản 3 Điều 150 BLHS
