Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH QUÁN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HS-ST.

Ngày: 26-02-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang

    Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đoàn, bà Trần Thúy Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thanh Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 21/2025/TLST-HS ngày 22/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 13/02/2025 đối với bị cáo:

  1. Văn Thị Lệ H

    – sinh năm 1969 tại Đồng Nai.

    Nơi cư trú: Ấp E, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Văn Lộc T (đã chết) và bà Phạm Thị H1 - 1941; Chồng: Phún T- 1967, có 02 người con, nhỏ nhất sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự: không.

    Bị bắt, tạm giữ ngày 21/9/2024 đến ngày 24/9/2024 được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay.

  2. Chí Hỷ C1

    , sinh năm 1974 tại Đồng Nai.

    Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Hoa; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Chí Sắn M (đã chết) và bà Vòng Cỏng K - 1945; Chồng: Phồng Phạt S - 1970, có 03 người con, nhỏ nhất sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: không.

    Bị bắt, tạm giữ ngày 21/9/2024 đến ngày 24/9/2024 được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay.

  3. Vòng Cỏng M2

    , sinh năm 1960 tại Đồng Nai.

    Nơi cư trú: Ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 1/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Vòng Và S1 – đã chết và bà Chềnh S2 - đã chết; Chồng: Lý A S3 - 1959, có 05 người con, nhỏ nhất sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: không.

    Bị bắt, tạm giữ ngày 21/9/2024 đến ngày 24/9/2024 được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay.

  4. Phùng Lỷ C

    , sinh năm 1958 tại Đồng Nai.

    Nơi cư trú: Ấp D, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Hoa; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng A Ử (đã chết) và bà Chướng Cắm M1 (đã chết); Chồng: Làu Văn L- 1960, có 07 người con, nhỏ nhất sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: không.

    Bị bắt, tạm giữ ngày 21/9/2024 đến ngày 24/9/2024 được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” cho đến nay.

(các bị cáo mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 10 giờ ngày 21/09/2024 Vòng C, Phùng Lỷ C và Văn Thị Lệ H đến nhà của Chí Hỷ C tại ấp B, xã P, huyện Đ để chơi. Tại đây tất cả cùng rủ nhau chơi đánh bạc bằng hình thức đánh bài “Tàu” và Chí H2 Chắn sử dụng địa điểm là nhà của mình cũng như chuẩn bị công cụ gồm bộ bài tàu, 01 bàn, 04 ghế nhựa để các đối tượng đánh bạc, còn C1 ngồi bên ngoài cảnh giới và thu tiền xâu. Các bị cáo đánh bạc đến 14 giờ cùng ngày thì bị bắt giữ cùng tang vật. Tổng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc là 7.950.000 đồng.

Cách thức đánh bạc như sau: Các bị cáo sử dụng bộ bài tàu 120 lá bài, mỗi người được chia 09 lá bài, ngoại trừ người làm cái có 10 lá, những lá bài còn lại sẽ được úp giữa chiếu bạc. Quy định mỗi người chia bài 01 ván xoay vòng thắng thua với nhau và thống nhất ai về nhất ván bài đó “Tới” thì sẽ phải bỏ ra số tiền 10.000 đồng tiền xâu cho Chí Hỷ C1. Bắt đầu ván bài, người làm cái đánh ra một lá rác. Theo thứ tự từ phải qua trái, người kế tiếp nếu thấy lá bài rác trên có thể tạo thành 01 nhóm bài của mình thì có thể ăn lá bài đó đồng thời đánh một con bài của mình xuống. Nếu không, thì bốc 01 lá bài được úp trên chiếu bạc rồi so với bài trên tay của mình đồng thời đánh đi 01 con bài rác. Cứ như thế, người chơi thay phiên nhau bốc bài, ăn bài sao cho tạo thành những nhóm bài hợp lệ và đánh 01 con bài rác đi. Người nào tạo thành 03 nhóm bài (mỗi nhóm 03 lá bài giống nhau) thì chiến thắng hay còn gọi là T1. Khi một người chơi chiến thắng, những người thua bắt buộc phải trả cho người thắng một số tiền là 20.000đ.

Quá trình điều tra xác định số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc và thắng thua như sau:

  • Số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc: Văn Thị Lệ Huyên 5.700.000đ, Vòng Cỏng M2 1.860.000đ, Phùng Lỷ C 390.000đ.
  • Quá trình đánh bạc thắng, thua như sau: Huyên thắng 200.000đ, C thua 390.000đ, C1 thu tiền xâu số tiền 190.000đ, M2 không thắng, không thua.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 05 bộ bài tàu (trong đó 02 bộ chưa sử dụng, 03 bộ đã sử dụng); 01 bàn làm chiếu bạc, 04 ghế nhựa.
  • Tiền mặt 7.950.000 đồng, trong đó:
    • + Tiền trên chiếu bạc 1.550.000 đồng, gồm: 190.000 đồng giữa chiếu bạc (là tiền xâu); 1.250.000 đồng tại vị trí ngồi của H; 110.000 đồng tại vị trí ngồi của M2.
    • + Tiền thu trong người các đối tượng 6.400.000 đồng, trong đó: thu trong người Huyên số tiền 4.650.000 đồng, thu trong người Mùi số tiền 1.750.000 đồng.

Đối với Chí Hỷ C1 tuy không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng C1 đóng vai trò giúp sức bằng cách sử dụng nhà ở, cung cấp dụng cụ đánh bạc, ngồi ngoài cảnh giới cho các đối tượng đánh bạc và thu tiền xâu. Ngày 21/09/2024 tại thời điểm bắt quả tang số tiền xâu các con bạc đã bỏ ra để trên chiếu bạc cho C1 là 190.000 đồng.

Tại Cáo trạng số 26/CT-VKSÐQ, ngày 30/12/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Đánh bạc”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 58 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt:

  • Bị cáo H số tiền từ 35 đến 40 triệu đồng; bị cáo C1 từ 25 đến 30 triệu đồng; bị cáo C từ 25 đến 30 triệu đồng, bị cáo M2 từ 30 đến 35 triệu đồng.

Vật chứng vụ án:

  • Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 7.950.000 đồng.
  • Tịch thu và tiêu hủy 01 cái bàn, 04 ghế nhựa, 05 bộ bài.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt như Viện kiểm sát đề nghị. Các bị cáo không tranh luận và bào chữa.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng:

    Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
  2. Về tội danh:

    Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, nên đủ căn cứ kết luận:

    Vào khoảng 14 giờ ngày 21/09/2024 tại nhà của Chí Hỷ C1 ở địa chỉ: ấp B, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai các bị cáo Văn Thị Lệ H, Vòng Cỏng M2 và Phùng Lỷ C đã có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền bằng hình thức chơi bài Tàu với số tiền dùng vào việc đánh bạc là 7.950.000 đồng thì bị bắt quả tang. Đối với Chí Hỷ C1 mặc dù không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng có hành vi giúp sức sử dụng nhà của mình làm địa điểm, cung cấp dụng cụ, cảnh giới cho các bị cáo đánh bạc nhằm mục đích thu lợi bất chính từ việc thu tiền xâu nên đóng vai trò đồng phạm giúp sức.

    Do đó hành vi các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

  3. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

    Không có.
  4. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế và là phụ nữ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  5. Về hình phạt:

    Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương nên cần đưa ra xét xử và có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhằm giáo dục, răn đe phòng ngừa chung. Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, các bị cáo đều là người thực hành. Tuy nhiên để cá thể hóa hình phạt cần đánh giá vai trò và số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc như sau: Đối với bị cáo H sử dụng số tiền đánh bạc nhiều nhất, bị cáo C1 tuy không trực tiếp đánh bạc nhưng đã có hành vi giúp sức tích cực là sử dụng nhà ở của mình làm địa điểm phạm tội, cung cấp công cụ phương tiện, ở ngoài cảnh giới, thu tiền xâu do đó hình phạt của H và C1 là ngang nhau và nghiêm khắc hơn hai bị cáo còn lại. Đối với M2 sử dụng số tiền đánh bạc nhiều hơn Cú do đó mức hình phạt cao hơn Cú.

    Xét thấy các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, số tiền đánh bạc không lớn và có nhiều tình tiết giảm nhẹ do đó không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng chế định án treo, giao bị cáo cho ủy ban nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, phòng ngừa chung và thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

  6. Về hình phạt bổ sung:

    • - Phạt bổ sung mỗi bị cáo số tiền 10.000.000 đồng.
  7. Về xử lý vật chứng:

    • Tiền mặt 7.950.000 đồng các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
    • 01 cái bàn, 04 ghế nhựa, 05 bộ bài là công cụ, phương tiện sử dụng vào mục đích phạm tội xét không có giá trị nên tịch thu, tiêu hủy.
  8. Về án phí:

    Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
  9. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa

    về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các vấn đề khác trong vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/05/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

    Tuyên bố bị cáo Văn Thị Lệ H, Chí Hỷ C1, Vòng Cỏng M2, Phùng Lỷ C phạm tội “Đánh bạc”.

    Xử phạt bị cáo Văn Thị Lê H3 10 (mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 08 (tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Xử phạt bị cáo Chí H2 Chắn 10 (mười) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 08 (tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Xử phạt bị cáo V Cỏng Mùi 08 (tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Xử phạt bị cáo Phùng Lỷ C 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68 và khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự:

    Phạt bổ sung mỗi bị cáo 10.000.000đ (mười triệu đồng).

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
    • - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 7.950.000 đồng.
    • - Tịch thu và tiêu hủy 01 cái bàn, 04 ghế nhựa và 05 bộ bài.
    • (Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Định Quán theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/01/2025 và Biên lai thu tiền số 0006166 ngày 21/01/2025).
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

    Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện, tỉnh;
  • - Công an huyện ĐQ;
  • - Chi cục THADS huyện ĐQ;
  • - Sở tư pháp tỉnh ĐN;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Huyền Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 35/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: số 35 ngày 26.02.25 Huỳnh Thị Lệ Huyên và đp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger