Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 35/2025/HSST

Ngày: 25 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thành.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Nguyễn Anh Ngọc;
2/ Bà Trần Thị Thu Hiền.
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: ông Trần Hà Ngọc Châu - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, xét xử sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 40/2025/HSST ngày 05 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Đoàn Thị Kim P; sinh năm 1985, tại: TP .; Nơi đăng ký NKTT: 206 Lô E, chung cư N, Phường A, Quận C, TP .; chỗ ở hiện nay: phòng 1.55 nhà số C D, phường T, quận T, TP .; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 06/12; giới tính: Nữ; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đoàn Minh H (chết) và bà: Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 1962; chồng: Tạ Thành C, sinh năm 1978; con: 03 người (lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2011);

Tiền án: Ngày 21/4/2008, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 năm tù về tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy” (bản án số 309/2008/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/9/2018, đã đóng án phí ngày 12/02/2014, chưa xóa án tích; Ngày 16/6/2020, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (bản án số 60/2020/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/4/2023, đã đóng án phí tháng 10/2020, chưa xóa án tích.

Tiền sự: không

Bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 16/04/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T, TP . và có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Xuân Hoàng S; sinh năm 1997, tại: TP .; Nơi đăng ký NKTT: B B đường X, Phường A, Quận D, TP .; chỗ ở hiện nay: như trên; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Xuân G, sinh năm 1972 và bà: Nguyễn Thị Mỹ L, sinh năm 1977; vợ, con: chưa;

Tiền án: Ngày 18/9/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội: “Cướp giật tài sản” (bản án số 80/2015/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/02/2018, đã đóng án phí ngày 27/6/2016, chưa xóa án tích; Ngày 27/9/2019 bị Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản” (bản án số 126/2019/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/4/2023, đã thi hành được 500.000 đồng án phí ngày 23/12/2020, chưa thi hành xong bồi thường thiệt hại 5.500.000 đồng, chưa xóa án tích.

Tiền sự: không

Bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 16/04/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận T, TP . và có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Tấn P1, sinh năm 1983; địa chỉ: A T, Phường C, Quận D, TP . (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đoàn Thị Kim P mua bán ma túy đá vào khoảng tháng 3/2024, P mua ma túy của một người đàn ông (chưa rõ lai lịch) ở quận G (chưa rõ địa chỉ) phân nhỏ ra bán lại cho các con nghiện để kiếm lời. Vào khoảng 16 giờ 47 phút ngày 12/4/2024, P đang ở phòng trọ 1.55, nhà số C D, phường T, quận T thì Nguyễn Xuân Hoàng S gọi điện thoại hỏi P có ở nhà không để mua ma túy đá và sử dụng trên gác phòng trọ của P thì P đồng ý. Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, S điều khiển xe gắn máy hiệu Honda Winner X, biển số 59C3-234.28 đến đầu hẻm C D, phường T, quận T gặp P thì P nói ma túy đá đã để trong nỏ (bộ sử dụng ma túy) rồi trả số tiền 450.000 đồng cho P, P đã tiêu xài hết.

Sau đó, S điều khiển xe gắn máy biển số 59C3-234.28 về nhà tại địa chỉ B Bis X, Phường A, Quận D, rồi chở Phạm Trần Phương T là bạn gái của S đến nhà P để sử dụng ma túy. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, S và T đến phòng 1.55 gặp P. Sau đó P dẫn S, T lên gác lửng phòng trọ và chỉ cho cả hai thấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy bên trong có ma túy rồi đi xuống tầng trệt dọn dẹp, thay quần áo. Tiếp đó, S lấy bật lửa có sẵn đốt phần nỏ, hít trước 01 hơi, đưa cho T hít 01 hơi rồi S hít 01 hơi và cả hai ngồi nghỉ. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Công an phường T đến kiểm tra và đưa tất cả về trụ sở Công an phường T làm việc.

Đoàn Thị Kim P trình bày đã nhiều lần bán ma túy đá, cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy cho S sử dụng trên gác phòng 1.55 của P nhiều lần. T đi cùng S đến sử dụng ma túy trên gác lửng phòng 1.55 nhà số C D 02 lần (lần đầu vào ngày 09/4/2024; lần hai vào ngày 12/4/2024), cả hai lần T không hùn tiền để mua ma túy. P đã thu lợi từ việc bán ma túy là 800.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T, Đoàn Thị Kim P và Nguyễn Xuân Hoàng S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại Bản Kết luận giám định số 4711/KL-KTHS ngày 19/4/2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận:

“ - Gói 1:

+ Tinh thể không màu được kí hiệu mẫu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,4939g, loại Methamphetamine.

+ Tinh thể không màu được kí hiệu mẫu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,5706g, loại Methamphetamine.

- Gói 2: Tinh thể màu vàng ngà được ký hiệu m3 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0666g, loại Methamphetamine” (Bút lục 109).

Tại Bản kết luận giám định số 4709/KL-KTHS ngày 22/04/2024 và Công văn số 1024/CV-PC09 ngày 18/10/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: “Đối tượng gửi giám định (đã nêu ở mục II) là loại súng sử dụng lò xo nên bắn đạn bi, không xác định được nguồn gốc, xuất xứ, súng không còn sử dụng được, không có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, không thuộc nhóm vũ khí, công cụ hỗ trợ và đồ chơi nguy hiểm bị cấm”. (Bút lục 102).

Vật chứng thu giữ:

  • - 02 gói niêm phong số 1417/24 bên ngoài có chữ ký ghi tên Đại úy Bùi Công D (Giám định viên), Nguyễn Hải T1 (Điều tra viên) bên trong chứa ma túy sau giám định.
  • - 01 hộp niêm phong số 4709/24 bên ngoài có các chữ ký Phạm Duy Hoàng A, Phan Thanh P2, Nguyễn Xuân Hoàng S và hình dấu Công an phường T.
  • - 01 cân điện tử, P dùng để phân chia ma túy để bán cho các con nghiện.
  • - 01 đèn dạng USB.
  • - 01 hộp giấy màu đỏ.
  • - 01 gói nylon in chữ OLD – SCHOOL MATE.
  • - 01 hộp giấy màu vàng.
  • - 01 túi vải màu đỏ.
  • Là các dụng cụ P dùng để đựng và bán ma túy.
  • - Nhiều túi nylon chưa qua sử dụng, P dùng để phân chia và đựng ma túy để bán cho các con nghiện.
  • - 01 đoạn ống hút màu đen, P dùng để phân chia ma túy để bán cho các con nghiện.
  • - 01 điện thoại di động hiệu N bị bể màn hình, số I: 355095420489750/38, P dùng để liên lạc mua bán ma túy.
  • - 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, là bộ dụng cụ P cho S mượn để sử dụng ma túy.
  • - 01 bật lửa màu vàng, S lấy tại gác lửng nhà P để sử dụng ma túy.
  • - 01 điện thoại di động hiệu OPPO số Imei: 860365059554556, là điện thoại S dùng để liên lạc mua ma túy.
  • - 01 balo màu đen có dòng chữ ADIDAS, S dùng để đựng quần áo và cây súng.
  • - 01 điện thoại đi động hiệu HUAWEI Y92019 64GB màu xanh, số Imei 1: 867743048695446, số Imei 2: 867743048729450, là điện thoại T dùng để liên lạc cá nhân. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại cho Phạm Trần Phương T và T không có yêu cầu gì khác. (Bút lục 266)
  • - 01 xe gắn máy hiệu Honda Winner X màu xanh đen bạc, biển số 59C3-234.28, số khung: RLHKC3716MY141856, số máy: KC34E-1296872, là xe gắn máy S dùng để chở T đi sử dụng ma túy.

Tại bản Cáo trạng số 58/CT-VKSQ.TP ngày 05 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP. đã truy tố bị cáo Đoàn Thị Kim P về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Xuân S1 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên Tòa:

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP . giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa phát biểu ý kiến giữ nguyên quan điểm như nội dung Cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt: bị cáo Đoàn Thị Kim P từ 08 năm đến 09 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm a, b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt: bị cáo Đoàn Thị Kim P từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm a, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; xử phạt: bị cáo Nguyễn Xuân Hoàng S từ 08 năm đến 09 năm tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề cập xử lý vật chứng.

- Các bị cáo Đoàn Thị Kim P, Nguyễn Xuân Hoàng S đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án. Điều tra viên, Kiểm sát viên, khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tổ tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo cáo Đoàn Thị Kim P, Nguyễn Xuân Hoàng S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của những người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác đã được thu thập tại hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để xác định: Từ ngày 09/4/2024 đến ngày 12/4/2024, tại phòng trọ 1.55 nhà số C D, phường T, quận T, Nguyễn Xuân Hoàng S đã nhiều lần có hành vi tổ chức cho Phạm Trần Phương T cùng nhau sử dụng trái phép chất ma túy.

Đoàn Thị Kim P đã nhiều lần có hành vi mua bán trái phép chất ma túy tại phòng trọ 1.55 nhà số C D, phường T, quận T với khối lượng 3,1311g ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, thu lợi bất chính 800.000 đồng. Ngoài ra, Đoàn Thị Kim P đã nhiều lần có hành vi tổ chức cho Nguyễn Xuân Hoàng S và Phạm Trần Phương T sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ do mình quản lý.

Vì vậy, Cáo trạng số 58/CT-VKSQ.TP ngày 05 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, TP. đã truy tố bị cáo Đoàn Thị Kim P về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Xuân S1 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến các chính sách, quy định của Nhà nước trong việc quản lý, cất giữ chất ma túy mà còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần thiết xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất mức độ và hậu quả do các bị cáo gây ra để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Vụ án có nhiều bị cáo tham gia nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn vì khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo không bàn bạc, phân công và câu kết chặt chẽ.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[6] Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo Đoàn Thị Kim P trong trường hợp phạm nhiều tội.

[7] - Đối với Phạm Trần Phương T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã chuyển hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

- Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Xuân Hoàng S là 0,0666g, ma túy loại Methamphetamine, chưa đủ định lượng để xử lý về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Xuân Hoàng S bằng hình thức phạt tiền 3.500.000 đồng là phù hợp.

- Đối với đối tượng (không rõ lai lịch) bán ma túy cho P, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đang tiếp tục xác minh, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau là phù hợp.

[8] Biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo Đoàn Thị Kim P nộp lại số tiền: 800.000 đồng tiền bán ma túy thu được mà có để sung vào ngân sách nhà nước.

[9] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 02 gói niêm phong số 1417/24 bên ngoài có chữ ký ghi tên Đại úy Bùi Công D (Giám định viên), Nguyễn Hải T1 (Điều tra viên) bên trong chứa ma túy sau giám định. Cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 hộp niêm phong số 4709/24 bên ngoài có các chữ ký Phạm Duy Hoàng A, Phan Thanh P2, Nguyễn Xuân Hoàng S và hình dấu Công an phường T. Cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 cân điện tử, P dùng để phân chia ma túy để bán cho các con nghiện. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 đèn dạng USB. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 hộp giấy màu đỏ; 01 gói nylon in chữ OLD – SCHOOL MATE; 01 hộp giấy màu vàng; 01 túi vải màu đỏ; Nhiều túi nylon chưa qua sử dụng, P dùng để phân chia và đựng ma túy để bán cho các con nghiện; 01 đoạn ống hút màu đen, P dùng để phân chia ma túy để bán cho các con nghiện. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia bị bể màn hình, số I: 355095420489750/38, P dùng để liên lạc mua bán ma túy. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, là bộ dụng cụ P cho S mượn để sử dụng ma túy; 01 bật lửa màu vàng, S lấy tại gác lửng nhà P để sử dụng ma túy. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO số Imei: 860365059554556, là điện thoại S dùng để liên lạc mua ma túy. Cần tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 balo màu đen có dòng chữ ADIDAS, S dùng để đựng quần áo và cây súng. Xét không còn giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại đi động hiệu HUAWEI Y92019 64GB màu xanh, số Imei 1: 867743048695446, số Imei 2: 867743048729450, là điện thoại T dùng để liên lạc cá nhân. Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại cho Phạm Trần Phương T và T không có yêu cầu gì khác là phù hợp. (Bút lục 266)

- Đối với 01 xe gắn máy hiệu Honda Winner X màu xanh đen bạc, biển số 59C3-234.28, số khung: RLHKC3716MY141856, số máy: KC34E-1296872, là xe gắn máy S dùng để chở T đi sử dụng ma túy.

Qua xác minh xe gắn máy trên do anh Nguyễn Tấn P1, thường trú: A T, Phường C, Quận D đứng tên chủ sở hữu. Qua làm việc anh P1 là anh họ của Nguyễn Xuân Hoàng S được biết xe gắn máy trên anh P1 mua vào cuối tháng 12/2021 với giá 41.000.000 đồng và đứng tên chủ sở hữu. Vào khoảng tháng 02/2024, do vợ ông P1 là chị Nguyễn Thị Thanh H2 nghỉ thai sản nên ông P1 lấy xe gắn máy của chị H2 để đi làm và để xe gắn máy biển số 59C3-234.28 ở nhà. Sau đó, S không có phương tiện đi lại nên ông P1 cho S mượn xe gắn máy trên để đi chạy xe G1. Việc S sử dụng xe gắn máy trên để chở T đi sử dụng ma túy thì ông P1 không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe gắn máy trên cho ông P1 và ông P1 không có yêu cầu gì khác. (Bút lục 265)

[10] Án phí: Các Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: bị cáo Đoàn Thị Kim P phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Xuân Hoàng S phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng: điểm b, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    [2.1] Xử phạt: bị cáo Đoàn Thị Kim P 09 (C1) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  3. Áp dụng: điểm a, b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    [3.1] Xử phạt: bị cáo Đoàn Thị Kim P 09 (Chín) năm 06 (S2) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

  4. Áp dụng: Điều 55 Bộ luật hình sự.

    - Buộc bị cáo Đoàn Thị Kim P phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là: 18 (Mười tám) năm 06 (S2) tháng tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 16/04/2024.

  5. Áp dụng: điểm a, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, 38, 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    [5.1] Xử phạt: bị cáo Nguyễn Xuân Hoàng S 09 (Chín) năm tù.

    Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam: ngày 16/04/2024.

  6. Biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    - Buộc bị cáo Đoàn Thị Kim P nộp lại số tiền: 800.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

  7. Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

    - Tịch thu tiêu hủy: 02 gói niêm phong số 1417/24 bên ngoài có chữ ký ghi tên Đại úy Bùi Công D (Giám định viên), Nguyễn Hải T1 (Điều tra viên) bên trong chứa ma túy sau giám định; 01 hộp niêm phong số 4709/24 bên ngoài có các chữ ký Phạm Duy Hoàng A, Phan Thanh P2, Nguyễn Xuân Hoàng S và hình dấu Công an phường T; 01 hộp giấy màu đỏ; 01 gói nylon in chữ OLD – SCHOOL MATE; 01 hộp giấy màu vàng; 01 túi vải màu đỏ; Nhiều túi nylon chưa qua sử dụng, P dùng để phân chia và đựng ma túy để bán cho các con nghiện; 01 đoạn ống hút màu đen; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, là bộ dụng cụ P cho S mượn để sử dụng ma túy; 01 bật lửa màu vàng; 01 balo màu đen có dòng chữ ADIDAS.

    - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 cân điện tử; 01 đèn dạng USB; 01 điện thoại di động hiệu Nokia bị bể màn hình, số I: 355095420489750/38; 01 điện thoại di động hiệu OPPO số Imei: 860365059554556;

    Hiện các đồ vật tài sản trên đã được nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 135/PNK ngày 21/5/2024 của Cơ quan CSĐT Công an quận T.

  8. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    - Buộc các bị cáo Đoàn Thị Kim P, Nguyễn Xuân Hoàng S. Mỗi bị cáo phải nộp: 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  9. Về quyền kháng cáo: các bị cáo Đoàn Thị Kim P, Nguyễn Xuân Hoàng S được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Niêm yết Bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đức Thành

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Q. Tân Phú;
  • - THADS quận Tân Phú;
  • - Công an Q. Tân Phú;
  • - CATP. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. HCM;
  • - Lưu hồ sơ.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HSST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 35/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger