Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/KDTM-PT

Ngày: 24-02-2025

V/v tranh chấp hợp đồng mua bán

hàng hoá

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Quỳnh Trâm
Các Thẩm phán: Bà Lưu Thị Đoan Trang
Bà Ngô Thị Phúc Hảo

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Ngọc Thy Thơ – Thư ký Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung – Kiểm sát viên.

Trong ngày 24-02-2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 212/2024/TLPT-KDTM ngày 28-10-2024 về tranh chấp “hợp đồng mua bán hàng hoá”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 115/2024/KDTM-ST ngày 05-9-2024 của Toà án nhân dân quận Tân Phú bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 602/2025/QĐ-PT ngày 17-02-2025; giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty Cổ phần S

Địa chỉ: Lô F - Đường E, Khu công nghiệp T, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Trần Nam T, sinh năm 1984; địa chỉ: Tầng G, 2 P, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số 1127/2024/SMC/GUQ ngày 11-01-2024) (có mặt)

Bị đơn: Công ty TNHH T1

Địa chỉ: Số H N, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của Bị đơn: ông Trần Quang M, sinh năm 1989; địa chỉ: Số D ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 12-9-2024) (có mặt)

Người kháng cáo: Công ty TNHH T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 15-8-2023 và tại bản tự khai,các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, nguyên đơn Công ty Cổ phần S có ông Trần Nam T là đại diện theo ủy quyền trình bày: Công ty cổ phần S (sau đây viết tắt là SMC) và Công ty TNHH T1 (sau đây viết tắt là Công ty T1) đã ký kết hợp đồng kinh tế mua bán bê tông thương phẩm số 012908/SMC/PKD/HĐ/2022 ngày 29-8-2022, Phụ lục hợp đồng số 012809/SMC/KD/PLHĐ/2022 ngày 28-9-2022 và Phụ lục hợp đồng số 021110/SMC/KD/PLHĐ/2022 ngày 11-10-2022 với nội dung cụ thể: Công ty T1 chấp thuận cho SMC cung cấp bê tông trộn sẵn cho các công trình sau: Nhà văn phòng, kho, xưởng sản xuất - Lô 20A đường Song hành, Khu Công nghiệp T, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nhà xưởng - Lô H, đường T, Khu Công nghiệp T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh

Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T1 còn nợ tiền mua hàng nên SMC khởi kiện yêu cầu Công ty T1 phải trả ngay cho SMC số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 19-12-2023 là 1.909.575.835 đồng, bao gồm nợ gốc 1.801.724.600 đồng và lãi chậm trả là 107.851.235 đồng, trả ngay một lần sau khi quyết định/ bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, Công ty T1 phải trả cho SMC tiền lãi do chậm trả trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường, tương ứng với thời gian chậm trả, tạm tính từ ngày 26-7-2023 (theo Hợp đồng kinh tế và bản tổng hợp khối lượng sau cùng ngày 06-3-2023, ngày xuất hóa đơn sau cùng ngày 15-3-2023, thời hạn thanh toán sau cùng là ngày 15-5-2023, gia hạn đến ngày 25-7-2023; lãi chậm trả được tính từ ngày 26-7-2023) đến nay theo lãi suất 15%/năm.

Bị đơn Công ty TNHH T1 có ông Đặng Quang C là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Công ty T1 không đồng ý thanh toán toàn bộ số nợ theo yêu cầu khởi kiện của SMC, do các sự cố phía SMC gây ra cho Công ty T1 tại 02 công trình: Lô H, đường T, Khu Công nghiệp T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh với chi phí cần khắc phục là 3.658.984.100 đồng; nhà văn phòng, kho, xưởng sản xuất - Lô B, đường S, Khu Công nghiệp T, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh chi phí cần khắc phục là 5.281.172.894 đồng (chi tiết theo Biên bản hoà giải tại Toà lập ngày 19-12-2023). Các thiệt hại này Công ty T1 không yêu cầu giải quyết trong vụ án này, sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác.

Tại phiên toà sơ thẩm ngày 14-8-2024, các bên đương sự lần lượt nộp thêm các tài liệu chứng cứ và trình bày ý kiến, cụ thể như sau: SMC nộp thêm các biên bản tổng hợp khối lượng bê tông (bút lục 224-245). Công ty T1 nộp thêm các tài liệu chứng cứ gồm: công văn số 258/SMC/CV/23 ngày 27-4-2023 và công văn số 127/SMC/PKD/CV/2023 ngày 27-3-2023 (bút lục 227-248). Các bên đương sự đã gửi các tài liệu chứng cứ qua bưu điện đến Toà án (bút lục 258-288)

Tại phiên toà ngày 05-9-2024, Người đại diện theo ủy quyền của SMC trình bày: SMC vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, cụ thể tính đến ngày xét xử sơ thẩm 05-9-2024, Công ty T1 chưa thanh toán cho SMC nợ gốc 1.801.724.600 đồng; lãi chậm trả tính từ ngày 26-7-2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 05-9-2024) là 271.827.000 đồng theo mức lãi suất là 13.5%/năm. Tuy nhiên, tại phiên toà sơ thẩm, SMC chấp nhận giảm nợ gốc và nợ lãi cho Công ty T1 như sau: nợ gốc Công ty T1 phải thanh toán là 1.800.000.000 (một tỷ, tám trăm triệu) đồng, lãi chậm trả tính từ ngày 26-7-2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 05-9-2024) theo mức lãi suất 13.5%/năm là 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng. Tổng cộng SMC yêu cầu Công ty T1 phải thanh toán cho SMC tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng.

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty T1 giữ nguyên ý kiến không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của SMC. Sở dĩ Công ty T1 ngừng thanh toán cho SMC theo hợp đồng kinh tế đã ký là hoàn toàn phù hợp quy định pháp luật, do SMC đã cung cấp bê tông không đạt chất lượng theo công văn số 258/SMC/CV/23 ngày 27-4-2023 và công văn số 127/S MC/PKD/CV/2023 ngày 27-3-2023, SMC vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nhưng không tích cực phối hợp khắc phục hậu quả, gây thiệt hại cho Công ty T1 tại 02 công trình nói trên, cụ thể tại công trình Lô H, đường T, Khu Công nghiệp T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là 2.989.584.000 (hai tỷ, chín trăm tám mươi chín triệu, năm trăm tám mươi bốn nghìn) đồng; công trình nhà văn phòng, kho, xưởng sản xuất Lô B, đường S, Khu Công nghiệp T, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh là 4.999.633.830 (bốn tỷ, chín trăm chín mươi chín triệu, sáu trăm ba mươi ba nghìn, tám trăm ba mươi) đồng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 115/2024/KDTM-ST ngày 05-9-2024 của Toà án nhân dân quận Tân Phú đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Công ty Cổ phần S.

Buộc Công ty TNHH T1 phải thanh toán cho Công ty Cổ phần S tổng số tiền chưa thanh toán tính đến ngày xét xử sơ thẩm (05-9-2024) là 2.000.000.000 (hai tỷ) đồng trong đó số tiền gốc còn nợ là 1.800.000.000 (một tỷ, tám trăm triệu) đồng, lãi chậm trả tính từ ngày 26-7-2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 05-9-2024) theo mức lãi suất 13.5%/năm là 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.

Thời hạn thanh toán: một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.

Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ dân sự: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015. Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Giành quyền khởi kiện cho Công ty TNHH T1 đối với Công ty Cổ phần S trong vụ án khác về bồi thường thiệt hại.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Ngày 17-9-2024, Toà án nhân dân quận Tân Phú nhận được Đơn kháng cáo đề ngày 12-9-2024 của Bị đơn Công ty TNHH T1, kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 115/2024/KDTM-ST ngày 05-9-2024 của Toà án nhân dân quận Tân Phú, đề nghị cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Tại phiên toà phúc thẩm,

Bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn; đề nghị cấp phúc thẩm y án sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên toà và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn; giữ y Bản án sơ thẩm số 115/2024/KDTM-ST ngày 05-9-2024 của Toà án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Tại phiên toà, Bị đơn không rút kháng cáo nên Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào trình bày của đương sự, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn và Bị đơn có ký kết Hợp đồng mua bán bê tông thương phẩm số 012908/SMC/PKD/HĐ/2022 ngày 29-8-2022, phụ lục Hợp đồng số 012809/SMC/KD/PLHĐ/2022 ngày 28-9-2022 và phụ lục Hợp đồng số 021110/SMC/KD/PLHĐ/2022 ngày 11-10-2022, theo đó Nguyên đơn cung cấp bê tông cho Bị đơn. Quá trình thực hiện hợp đồng các bên phát sinh tranh chấp, Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Bị đơn thanh toán nợ gốc và lãi chậm trả. Toà án nhân dân quận Tân Phú xác định quan hệ tranh chấp “hợp đồng mua bán hàng hoá” và thẩm quyền giải quyết theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.

[2] Ngày 05-9-2024, Toà án nhân dân quận Tân Phú xét xử sơ thẩm; ngày 17-9-2024, Toà án nhân dân quận Tân Phú nhận được Đơn kháng cáo đề ngày 12-9-2024 của Bị đơn. Xét thấy, kháng cáo của Bị đơn trong thời hạn luật định và hợp lệ nên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết theo thủ tục phúc thẩm quy định tại điểm b khoản 3 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[3] Xét thấy, Hợp đồng mua bán bê tông thương phẩm số 012908/SMC/PKD/HĐ/2022 ngày 29-8-2022, Phụ lục hợp đồng số 012809/SMC/KD/PLHĐ/2022 ngày 28-9-2022 và Phụ lục Hợp đồng số 021110/SMC/KD/PLHĐ/2022 ngày 11-10-2022 được ký kết bởi người đại diện theo pháp luật của hai pháp nhân là tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên có hiệu lực, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia ký kết hợp đồng.

[4] Xét kháng cáo của Bị đơn không đồng ý Bản án cấp sơ thẩm buộc Bị đơn thanh toán cho Nguyên đơn nợ gốc 1.800.000.000 đồng và lãi 200.000.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[5] Quá trình giải quyết tranh chấp tại cấp sơ thẩm, Bị đơn có ý kiến không đồng ý thanh toán nợ mua hàng do Nguyên đơn giao bê tông không đảm bảo chất lượng, kèm theo các tài liệu chứng cứ là Kết quả thí nghiệm bê tông số 73/18/LAS -XD-538 và 73/19/LAS-XD-538 ngày 03-4-2023 được đơn vị phòng LAS - XD 538 thí nghiệm; căn cứ theo mục 6.2 của TCVN 3118:2022 thì hai tổ mẫu không đạt yêu cầu do kết quả cường độ của bất kỳ một mẫu thấp hơn 15% so với đơn đặt hàng (đối với công trình Lô H, đường T, Khu Công nghiệp T, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh); Báo cáo kết quả kiểm định số 00154/N6.23/DG/1 của đơn vị kiểm định độc lập - Trung tâm K Chất lượng 3 ngày 11-9-2023 kết luận: Nguyên nhân nứt sàn do cấp phối bê tông không phù hợp (bê tông không đạt chất lượng, cường độ) (đối với công trình lô B, đường S, Khu Công nghiệp T, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh). Đồng thời, tại Biên bản số 11/BBLV ngày 06-5-2023 giữa hai công ty, Nguyên đơn cũng có ý kiến: “Trong trường hợp Song L thực hiện đúng mục 1 theo TCVN hiện hành mà xảy ra nứt mặt và sự cố thì SMC sẽ chịu trách nhiệm bồi thường tất cả chi phí liên quan đến vấn đề khắc phục”; và tại Văn bản số 127/SMC/PKD/CV/2023 ngày 27-3-2023, Mục 2 Nguyên đơn đề xuất phương án giảm giá trị thanh toán beton Mac 300R28 xuống Mac 250R28; văn bản số 258/SMC/CV/23 ngày 27-4-2023, tại Mục 3 Nguyên đơn đề nghị Bị đơn cam kết không kiện ra toà về việc bê tông không đạt cường độ tại lô H đường T, Khu Công nghiệp T. Các tài liệu chứng cứ Bị đơn cung cấp thể hiện chất lượng bê tông Nguyên đơn bán cho Bị đơn không đạt chất lượng như thoả thuận của Hợp đồng được ký kết giữa các bên. Tuy nhiên cấp sơ thẩm đã không xem xét, phân tích, đánh giá các tài liệu chứng cứ do Bị đơn cung cấp mà chỉ căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn trên cơ sở Hợp đồng mua bán bê tông thương phẩm, các phụ lục hợp đồng, bảng tổng hợp khối lượng bê tông giao cho Bị đơn, các đợt thanh toán... để buộc Bị đơn phải thanh toán tiền nợ mua hàng còn lại cùng lãi chậm trả là chưa đủ cơ sở.

[6] Tại cấp phúc thẩm, Bị đơn cung cấp thêm tài liệu chứng cứ gồm: Biên bản làm việc số 14/BBLV ngày 03-4-2023 giữa Chủ đầu tư Công ty Cổ phần I và Nhà thầu là Công ty TNHH T1 với nội dung liên quan “công trình Lô H đường T, KCN T do Công ty T1 thi công; căn cứ kết quả thí nghiệm cường độ bê tông số 73/18/LAS-XD-538 và 73/19/LAS-XD-538 ngày 03-4-2023 được đơn vị phòng LAS – XD 538 (Công ty CP K1) thực hiện, kết quả cho thấy bê tông đà kiềng của nhà xưởng không đạt cường độ theo thiết kế và theo đơn đặt hàng. Chủ đầu tư sẽ ngưng thanh toán khối lượng nhà thầu đã thực hiện và chờ nhà thầu đưa ra phương án xử lý”; Công văn số 76/TB-MKL ngày 04-12-2023 của Công ty TNHH T2 gửi Công ty TNHH T1 liên quan công trình tại Lô B, đường S, KCN T có nội dung: “Theo Hợp đồng số 002-082022/HĐKT/SL-MKL ngày 25-8-2022, Công ty T1 phải đảm bảo hoàn toàn về chất lượng thi công công trình đạt tiêu chuẩn để đưa vào sử dụng. Hiện nay sàn lửng chưa được chủ đầu tư nghiệm thu và thanh toán vì lý do: mặt sàn bị nứt nhiều vị trí, nguy cơ mất an toàn. Mặt khác, theo kết quả kiểm định của Trung tâm 3 tại khoản 6.2 cho thấy mặt sàn nứt do cấp phối bê tông không phù hợp,... Tính đến ngày 02-12-2023, sàn lửng vẫn chưa được đưa vào sử dụng gây ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất kinh doanh của Công ty T2”. Các văn bản trên thể hiện công trình Bị đơn thi công chưa được chủ đầu tư nghiệm thu, quyết toán do Nguyên đơn cung cấp bê tông không đạt chất lượng, gây nứt sàn; bê tông đà kiềng của nhà xưởng không đạt cường độ theo thoả thuận hợp đồng.

[7] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm chưa đánh giá các tài liệu chứng cứ liên quan đến chất lượng bê tông do Nguyên đơn cung cấp, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tại cấp phúc thẩm, Bị đơn cung cấp thêm hai văn bản của chủ đầu tư Công ty Cổ phần I và Công ty TNHH T2 thể hiện nội dung chủ đầu tư chưa nghiệm thu, thanh toán có liên quan đến chất lương bê tông đổ tại 02 công trình. Do đó, để xác định khối lượng bê tông mà Nguyên đơn cung cấp không đạt chất lượng, xác định lỗi vi phạm trong quá trình thực hiện hợp đồng, biện pháp khắc phục, từ đó có cơ sở đối trừ nghĩa vụ của các bên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết huỷ toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 115/2024/KDTM-ST ngày 05-9-2024 của Toà án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân quận Tân Phú giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

[8] Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[9] Về án phí phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm bị huỷ nên Bị đơn không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH T1.

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 38; khoản 3 Điều 308, Điều 310, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án; Luật Thi hành án dân sự;

Xử:

  1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 115/2024/KDTM-ST ngày 05-9-2024 của Toà án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND quận Tân Phú;
  • - Cục THADS TP.Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục THADS quận Tân Phú;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Quỳnh Trâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/KDTM-PT ngày 24/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá

  • Số bản án: 35/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger