|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 34/2025/DS-PT Ngày: 21-02-2025 V/v: “Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự”. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 31/2025/DS-PT Ngày: 20-02-2025 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH |
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hà Giang;
Các thẩm phán: bà Triệu Thị Luyện và ông Nguyễn Việt Hùng;
Thư ký phiên toà: ông Hoàng Đình Sắc – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: bà Ngô Thị Vân Anh – Kiểm sát viên trung cấp.
Trong các ngày 20 tháng 01 năm 2025 và 20 tháng 02 năm 2025, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 240/2024/TLPT-DS ngày 12/11/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” do bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 300/2024/QĐ-PT ngày 09/12/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 452/2024/QĐ-PT ngày 20/12/2024 và Quyết định tạm ngừng phiên toà số 18/2025/QĐ-PT ngày 20/01/2025 giữa cá c đương sự:
Nguyên đơn: bà Ngô Thị C, sinh năm 1954 (có mặt);
Địa chỉ: tổ dân phố Đ, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Ngô Thị C: ông Nguyễn Đức T (có mặt) và bà Thân Thúy V (xin vắng mặt) - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B.
Đồng bị đơn:
- Cụ Nguyễn Tài Đ, sinh năm 1941 (đã chết này 17/01/2025);
- Cụ Ngô Thị X (tên gọi khác: Nguyễn Thị X1), sinh năm 1940 (xin vắng mặt);
Đều địa chỉ: tổ dân phố () Đ, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
Người kết thừa quyền và nghĩa vụ của cụ Đ:
- Cụ Ngô Thị X (tên gọi khác: Nguyễn Thị X1), sinh năm 1940 (xin vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963 (có mặt);
- Ông Nguyễn Trí K, sinh năm 1970 (có mặt);
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967 (có mặt);
- Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1976 (xin vắng mặt);
Đều địa chỉ: TDP Đ, phường Q, thị xã V.
- Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1974 (có mặt);
Đều có địa chỉ: TDP C, phường Q, thị xã V.
- Ông Nguyễn Tài T2, sinh năm 1961 (có mặt);
Địa chỉ: số H P, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Ngô Minh H, sinh năm 1976 (có mặt);
- Anh Ngô Đức Đ1, sinh năm 1982 (có mặt);
Cùng địa chỉ: TDP Đ, phường Q, thị xã V, tỉnh Bắc Giang.
- Chị Ngô Thị H1, sinh năm 1979 (xin vắng mặt);
Địa chỉ: đường số C, khu phố B, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh;
- Chị Ngô Thị Kim L, sinh năm 1984 (có mặt);
Địa chỉ: thôn K, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình.
Đại diện theo ủy quyền của chị H, anh Đ1, chị H1, chị L: bà Ngô Thị C, sinh năm 1954 (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963 (có mặt);
- Ông Nguyễn Trí K, sinh năm 1970 (có mặt);
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1967 (có mặt);
- Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1976 (xin vắng mặt);
Đều địa chỉ: TDP Đ, phường Q, thị xã V.
- Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1974 (có mặt);
Có mặt Địa chỉ: TDP C, phường Q, thị xã V.
- Ông Nguyễn Tài T2, sinh năm 1961. Địa chỉ: Số H P, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Ủy ban nhân dân (UBND) phường Q, thị xã V do ông Nguyễn Tài H2 - Chủ tịch UBND phường Q, thị xã V đại diện theo pháp luật (vắng mặt).
- UBND thị xã V, tỉnh Bắc Giang do bà Thân Thị L1 - Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã V đại điện theo uỷ quyền (vắng mặt).
Người kháng cáo: bà Ngô Thị C là nguyên đơn trong vụ án
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền Nguyên đơn trình bày: gia đình bà Ngô Thị C đang quản lý và sử dụng thửa đất số 354, tờ bản đồ số 06, diện tích 1.364,5m² mang tên chủ sử dụng Ngô Đức H3 và Ngô Thị C. Gia đình bà C đã sử dụng ổn định từ năm 1960 đến nay và thực hiện đóng thuế với nhà nước đầy đủ. Do quá trình quản lý sử dụng trồng lúa không hiệu quả, năm 2000 gia đình bà C chuyển sang đào ao thả cá. Để thuận tiện cho việc nuôi trồng theo mô hình VAC. Vì vậy gia đình bà C có bớt lại khoảng 30m² diện tích giáp với thửa đất số 323 mang tên chủ sử dụng hộ ông Nguyễn Tài Đ và Ngô Thị X, trên phần đất này bà C có trồng 02 bụi tre để làm mốc giới với đất của gia đình ông Đ.
Tuy nhiên, đến nay ông Đại tự Ý chặt chuối và tre của gia đình bà để xây dựng tường bao. Bà C đã ra ngăn chặn, vì vậy hai bên xảy ra tranh chấp, UBND xã Q đã tổ chức hòa giải cho hai gia đình. Tại buổi hòa giải lần 2 bà C mới được biết hộ gia đình ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) đối với thửa đất số 323 có diện tích 452,9 m², trong đó có khoảng 90m² đất lấn sang phần đất nhà bà C.
Việc cấp GCNQSDĐ cho ông Nguyễn Tài Đ và bà Ngô Thị X gia đình bà C không hề được biết cũng như thông báo về việc đo đạc mốc giới giáp ranh giữa hai nhà, dẫn đến việc đo đạc sai diện tích thửa đất của gia đình bà C so với tờ bản đồ giải thửa do Trung tâm công nghệ thông tin cung cấp.
Ngoài ra trong biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất số 323 thể hiện có xác nhận của các chủ sử dụng đất liền kề (trong đó ông Ngô Đức H3- chồng bà C). Tuy nhiên bà khẳng định ông H3 không ký xác nhận này. Bà C cho rằng việc cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Đ và bà N1 là không đúng quy định của pháp luật, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà C.
Theo Thông tư 346/1998 quy định “Sau khi Hội đồng đăng ký đất đai có kết luận, UBND xã, phường tổ chức công bố công khai kết quả đã xét để mọi người dân được tham gia ý kiến. Thời gian công bố công khai là 15 ngày. Tuy nhiên UBND xã Q cũng không thực hiện việc công bố công khai. Vì vậy đến nay bà C mới được biết việc cấp GCNQSDĐ cho gia đình ông Đ lấn sang thửa đất của mình làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình bà C. Nay yêu cầu cụ Đ phải trả lại toàn bộ phần đất lấm chiếm khoảng 90m² có giá 4.050.000 đồng (đo thực tế là 128,8m² có giá trị 5.796.000 đồng).
Khi làm thủ tục cấp GCNQSDĐ là do bà C đứng ra làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất đối với 03 thửa như trong đơn đã trình bày, tuy nhiên UBND huyện V (nay là thị xã V) chỉ cấp cho bà C 01 sổ đối với thửa đất số 353 có diện tích 523,6m² còn lại 02 thửa 354, 355 chưa được cấp GCNQSDĐ. Theo đơn đề nghị cấp diện tích thửa 354 là 1.364,5 m² đất ao, hiện tại đo thực tế là 1.592,7m².
Bị đơn - cụ Nguyễn Tài Đ, cụ Ngô Thị X trình bày: Gia đình các cụ sử dụng diện tích đất ao từ năm 1958 đến nay, nguồn gốc đất ao là do các cụ để lại và không có tranh chấp. Năm 2004, UBND huyện V (nay là thị xã V) có chủ trương cấp giấy chứng nhận cho các hộ gia đình tại thôn Đ, xã Q trong đó có gia đình các cụ. Khi đó cụ Đ là người đứng ra làm đơn, còn việc ký các văn bản giấy tờ là do thôn và xã làm. Ngày 10/4/2005 gia đình cụ đã được UBND huyện V cấp GCNQSDĐ số AB 718986, số vào sổ cấp GCNQSDĐ: H03904 ngày 10/4/2005 mang tên hộ ông Đ và bà X gồm 02 thửa đất số 319 và 323; tờ bản đồ số 6; địa chỉ: thôn Đ, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang; diện tích 759,1m²; mục đích sử dụng: Đất ở tại nông thôn; thời gian sử dụng: Lâu dài. Nay cụ Đ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà T1, ông K, bà N, bà M, bà Q, ông T2 đều trình bày: các ông, bà là con cụ Đ và cụ X, hiện nay bà C kiện cụ Đ và cụ X về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Toàn bộ diện tích đất của của cụ Đ và cụ X hiện đang sử dụng có nguồn gốc là do các cụ để lại. Ngày 10/4/2005, UBND huyện V đã cấp GCNQSDĐ vào sổ số H03904 mang tên hộ ông Đ và bà X, diện tích là 452,9 m². Từ khi được cấp GCNQSDĐ cho đến nay không có ai tranh chấp hoặc khiếu kiện gì. Căn cứ kết quả đo vẽ thẩm định thì hiện tại đất của cụ Đ và cụ X thiếu 3,4m² so với GCNQSDĐ đã được cấp (449,5/452,9). Vì vậy, bà T1, ông K, bà N, bà M, bà Q, ông T2 không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị C đối với cụ Đ và cụ X.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - UBND thị xã V trình bày: thửa đất số 319 và 323 cùng tờ bản đồ 06, địa chỉ thôn Đ, xã Q (nay là TDP Đ, phường Q). Hai thửa đất này đã được UBND huyện V (nay là thị xã V) cấp GCNQSDĐ ngà y 10/4/2005 mang tên hộ ông Nguyễn Tài Đ và bà Ngô Thị X; trong đó thửa 319 có diện tích 306,2 m² đất ở; thửa 323 có diện tích 452,9m² đất ao (tổng diện tích 02 thửa là 759,1 m²); số vào sổ H03904, số phát hành AB 718986.
Kiểm tra hồ sơ cấp GCNQSDĐ thấy có một số nội dung chưa đầy đủ, chưa chặt chẽ như: Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất không ghi ngày, tháng năm, không ghi ý kiến của UBND xã, không có ý kiến và xác nhận của Cơ quan địa chính (Phòng địa chính nông nghiệp). Tuy nhiên việc thiếu sót nêu trên không làm ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất hộ ông Đ đối với hai thửa đất nêu trên. Quá trình lập và hoàn thiện hồ sơ cấp GCNQSDĐ, Hội đồng đăng ký đất đai xã Q có tổ chức xét duyệt hồ sơ, UBND xã Q niêm yết công khai tại địa phương, quá trình công khai UBND xã Q không nhận được ý kiến, đơn khiếu nại gì liên quan việc lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho hai thửa nêu trên. Ngoài ra kiểm tra GCNQSDĐ đã ký cấp thấy có một số nội dung in trên GCNQSDĐ không đúng hồ sơ: không in nguồn gốc sử dụng đất, không in đầy đủ diện tích từng thửa, in thiếu mục đích sử dụng thửa đất ao (thửa 323). Đối với việc bà C đề nghị hủy GCNQSDĐ đã cấp cho hộ cụ Đ đề nghị TAND thị xã giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - UBND phường N, thị xã V: qua kiểm tra xem xét tại kho lưu trữ UBND phường Q không lưu giữ được hồ sơ cấp GCNQSDĐ của hộ gia đình ông Nguyễn Tài Đ và hộ gia đình bà Ngô Thị C. Do vậy UBND phường không có căn cứ trả lời việc cấp GCNQSDĐ cho hộ ông Đ và hộ bà C đúng hay sai.
Với nội nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Toà án nhân dân thị xã Việt Yên đã căn cứ các Điều 166, 175, 176 - Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013 Xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị C về việc yêu cầu cụ Nguyễn Tài Đ và cụ Ngô Thị X trả lại diện tích đất lấn chiếm 128,8m² đối với thửa đất số 323, tờ bản đồ 06, địa chỉ thôn Đ, xã Q (nay là TDP Đ, phường Q) đã được cấp GCNQSDĐ số vào sổ H03904, số phát hành AB 718986 ngày 10/4/2005 mang tên hộ ông Nguyễn Tài Đ và bà Ngô Thị Xạ .
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án của các bên đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/9/2024, bà Ngô Thị C kháng cáo bản án, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Trợ giúp viên pháp lý T bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bà C trình bày quan điểm tranh luận: nguồn gốc đất tranh chấp 128,8m2 nằm trong diện tích 1592,7m2 đất ao mà gia đình bà C được giao chưa được cấp GCNQSDĐ và gia đình bà C đã để lại làm bờ ao chiều rộng khoảng 5m và đã trồng 2 bụi tre. Năm 2014 đã xẩy ra tranh chấp do ông Đ chặt tre, được thôn giải quyết nhưng không có biên bản. Sau này khi hoà giải tranh chấp đất đai lần 2 bà C mới biết được gia đình ông Đ đã được cấp GCNQSDĐ năm 2005 đối với diện tích đất 452,9m2 tại thửa 323 trong đó có cả 128,8m2 đất của gia đình bà C. Việc cấp GCNQSDĐ cho ông Đ như trên là không đúng pháp luật, chữ ký giáp danh không phải chữ ký của chồng bà. Đề nghị HĐXX xem xét, chấp nhận kháng cáo của bà C, sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu yêu cầu khởi kiện của bà C.
Bà C bổ sung không đồng ý nguồn gốc đất như bị đơn trình bày, mà chỉ thực tế sử dụng đất từ năm 1980 do ông T3 cho. Bà đồng ý với quan điểm của ông T.
Ông K tranh luận không đồng ý với toàn bộ ý kiến của phía bà C vì không có căn cứ.
Bà T1 tranh luận không đồng ý với toàn bộ ý kiến của phía bà C, đất này do các cụ để lại cho bố mẹ bà từ nhỏ đã thấy bố mẹ bà sử dụng, bà C về làm dâu sau không nắm được nguồn gốc đất giữa hai gia đình như thế nào.
Bà N nhất trí ý kiến của bà T1, không tranh luận gì.
Ông T2 nhất trí ý kiến của bà T1, ông K không tranh luận gì.
Bà Q tranh luận diện tích đất tranh chấp do bố mẹ bà được các cụ cho, quản lý sử dụng đến nay không có tranh chấp với cho đến khi bà C khởi kiện, bố mẹ chồng và chồng bà C không có ý kiến tranh chấp gì, mẹ bà vẫn sử dụng đến nay. Vì vậy không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà C.
Chị L tranh luận, diện tích đất của gia đình ông Đ được cấp GCNQSDĐ không đúng, chữ ký của các hộ giáp danh không đúng, những người này không ký. Trước đây gia đình bà trồng tre và chuối gia đình ông Đ không ý kiến gì đến năm 2014 mới đến chặt tre của gia đình bà.
Anh Đ1 đồng ý trình bày của chị L, yêu cầu huỷ GCNQSDĐ đã cấp cho gia đình ông Đ vì trái pháp luật.
Chị H đồng ý tranh luận của anh Đ1.
Các đương sự giữ nguyên quan điểm, không ai tranh luận gì thêm.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng quy định của BLTTDS do vắng mặt tại các phiên tòa không có lý do. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của các đương sự, phân tích nội dung, các tình tiết của vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận kháng cáo của bà Ngô Thị C, giữ nguyên bản án sơ thẩm, bà Ngô Thị C được miễn án phí dân sự phúc thẩm do là người cao tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: trong quá trình xét xử phúc thẩm, bị đơn là cụ Đ chết, Toà án đã đưa người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng vào tham gia tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều 74 của BLTTDS và khoản 1 Điều 651 của BLDS; một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 296 của BLTTDS.
Xét đơn kháng cáo của nguyên đơn, HĐXX thấy:
[2] Bà Ngô Thị C yêu cầu cụ Nguyễn Tài Đ và cụ Ngô Thị X trả lại diện tích đất lấn chiếm đo thực tế theo bà C chỉ mốc giới là 128,8m2, đối với thửa đất số 354 của gia đình bà C, có nguồn gốc do các cụ để lại, thửa đất tranh chấp hiện chưa được nhà nước cấp GCNQSDĐ có diện tích 1.364,5m². Năm 2001 bà C làm đơn đăng ký quyền sử dụng đất đối với 03 thửa gồm: thửa số 353 có diện tích 523,6m² đất ao; thửa 354 có diện tích 1364,5m² đất ao; thửa số 355 có diện tích 360m² đất ở và 244,6 m² đất vườn cùng tờ bản đồ 06 đề nghị UBND huyện V cấp GCNQSDĐ. Sau khi làm đơn đăng ký quyền sử dụng đất gia đình bà C đã được UBND huyện V (nay là thị xã V) cấp GCNQSDĐ đối với thửa số 353 có diện tích 523,6 m². Đối với 02 thửa còn lại chưa được cấp GCNQSDĐ vì lý do gì thì bà C không biết.
[3] Cụ Đ và cụ X không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C và cho rằng diện tích đất bà C yêu cầu cụ Đ phải trả lại do lấn chiếm là không có căn cứ, nguồn gốc đất là do cha ông cụ kỵ để lại phần đất cụ Đ được sử dụng trước đây cụ đã xây tường để phân định ranh giới với đất ao của bà C. Ngày 10/4/2005, UBND huyện V (nay là thị xã V) cấp giấy chứng nhận cho gia đình cụ gồm 02 thửa (319 và 323) trong cùng 01 giấy chứng nhận với tổng diện tích là 759,1m². Trong đó thửa đất số 319 có diện tích là 306,2m², thửa 323 có diện tích 452,9m². Quá trình giải quyết vụ án bà C không cung cấp được các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, bà C khai và cho rằng đất ao đang tranh chấp với cụ Đ nguồn gốc là do các cụ để lại.
[4] Căn cứ kết quả thẩm định đo đạc 02 lần cho thấy diện tích của gia đình bà C tại thửa 354 (thửa đang tranh chấp) đều tăng so với diện tích ban đầu theo lời khai của bà C cũng như hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất của bà C (đo vẽ lần 1 có kết quả 1591,7m2/1364,5m², lần 2 là 1592,7m²/1364,5m²). Diện tích đất của gia đình cụ Đ bị thiếu diện tích so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đo vẽ lần 1 có kết quả 435,3m²/542,9m², lần 2 là 449,5m²/542,9m²). Theo ý kiến trình bày của UBND thị xã V: thửa đất số 319 và 323 cùng tờ bản đồ 06, địa chỉ thôn Đ, xã Q (nay là TDP Đ, phường Q). Hai thửa đất này đã được UBND huyện V (nay là thị xã V) cấp GCNQSDĐ ngày 10/4/2005 mang tên hộ ông Đ và bà X; trong đó thửa 319 có diện tích 306,2 m² đất ở; thửa 323 có diện tích 452,9m² đất ao (tổng diện tích 02 thửa là 759,1 m²); số và o sổ H03904, số phát hành AB 718986. Hồ sơ cấp GCNQSDĐ có một số nội dung chưa đầy đủ, chưa chặt chẽ như: Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất không ghi ngày, tháng năm, không ghi ý kiến của UBND xã, không có ý kiến và xác nhận của Cơ quan địa chính (Phòng địa chính nông nghiệp). Tuy nhiên, việc thiếu sót nêu trên không làm ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất hộ ông Đ đối với hai thửa đất nêu trên. Quá trình lập và hoàn thiện hồ sơ cấp GCNQSDĐ, Hội đồng đăng ký đất đai xã Q có tổ chức xét duyệt hồ sơ, UBND xã Q niêm yết công khai tại địa phương, quá trình công khai UBND xã Q không nhận được ý kiến, đơn khiếu nại gì liên quan việc lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho hai thửa nêu trên.
[5] Bà Ngô Thị C không cung cấp được tài liệu chứng minh việc cụ Đ, cụ X lấn chiếm đất, mặt khác đất thửa đất số 354 của gia đình bà C chưa được cấp GCNQSDĐ, hơn nữa diện tích đất của bà C hiện tăng lên so với diện tích trong đơn đăng ký quyền sử dụng đất.
Tại phiên tòa sơ thẩm bà C trình bày năm 2014 Nhà nước tiến hành đắp đất mở rộng hành lang đê cũng có lấn chiếm một phần vào diện tích đất ao của gia đình bà (thửa 354) diện tích cụ thể bao nhiêu bà không nắm được và bà cũng không có ý kiến gì. Đối với thửa đất 323 của cụ Đ và cụ X, sau khi xem xét thẩm định và đo vẽ lần 2 có bị thiếu diện tích 3,4m² so với GCNQSDĐ, cụ Đ cho rằng diện tích thiếu này là do khi xây tường ao gia đình có bớt lại 10cm. Nay cụ Đ không có ý kiến gì. Việc Toà án cấp sơ thẩm không chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[6] Tại cấp phúc thẩm nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì khác có giá trị chứng minh cho yêu cầu khởi kiện và kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. HĐXX thấy cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang như đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tại phiên toà.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo của bà Ngô Thị C không được chấp nhận nên bà C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên bà C là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Ngô Thị C, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 56/2024/DS-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Ngô Thị C được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Giang |
HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Hà G;
Các thẩm phán: bà Triệu Thị L2 và bà Phạm Thị C1;
Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Ngọc Thương H4 – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang: bà Nguyễn Thị T4 – Kiểm sát viên trung cấp.
Trong các ngày 21/01/2025 và 21/02/2025, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 234/2024/TLPT-DS ngày 12/11/2024 về việc “Tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự” do bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 223/2024/QĐ-PT ngày 18/10/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 433/QĐ-PT ngày 13/12/2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà số 03/2025/TB-TA ngày 03/01/2025 và Quyết định tạm ngừng phiên toà số 23/2025/QĐ-PT ngày 21/01/2025 giữa các đương sự:
Đồng nguyên đơn:
- Anh Ngô Đức P năm 1990 (có mặt);
- Chị Nguyễn Thị P1 năm 1989 (có mặt);
Đều cư trú: thôn V, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Ngô Đức Pchị Nguyễn Thị P2: Luật sư Đặng Văn C2 (vắng mặt), Luật sư Trân Thị Thanh L3(có mặt) - thuộc Văn phòng L1Đoàn luật sư thành phố H chỉ: số F, phố T, phường Q, quận Đ, thành phố Hà Nội
Bị đơn: chị Trần Thị H5 năm 1983 (có mặt tại phiên toà ngày 21/01/2025; vắng mặt tại phiên toà ngày 21/02/2025);
Nơi cư trú: thôn T, xã Đ, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1983 (vắng mặt);
- Ông Trần Văn H6 năm 1954 (vắng mặt);
Đều cư trú: thôn T, xã Đ, huyện Y (nay là thành phố B), tinh Bắc Giang
- Ông Trần Văn T5 năm 1974 (vắng mặt);
- Bà Trần Thị T6 năm 1975 (vắng mặt);
Đều địa chỉ: thôn B, xã Đ, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang
- Ông Nguyễn Quốc T7 năm 1955 (vắng mặt);
- Bà Trần Thị H7 năm 1958 (vắng mặt);
Đều địa chỉ: thôn B, xã Đ, huyện Y (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang
- UBND xã Đ (nay là thành phố B), tỉnh Bắc Giang do ông Nguyễn Thế Đ2 tịch, đại diện (vắng mặt).
Người kháng cáo: anh Ngô Đức Pchị Nguyễn Thị P2 là nguyên đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng, nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn là anh Ngô Đức P3 Nguyễn Thị Phương trình B Anh chị nhận chuyển nhượng từ chị Trần Thị H8 thửa đất làm 4 lần, lần đầu nhận chuyển nhượng 200m2 ở thôn T; lần hai nhận chuyển nhượng 324m2 đất ở mặt đường Clần ba nhận chuyển nhượng 100m2 đất ở thôn T và lần 4 nhận chuyển nhượng thửa đất ở xã C, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Anh chị đã thanh toán tiền đầy đủ và chị H9 ký giấy tờ mua bán. Cụ thể như sau:
- Ngày 20/10/2019, chị H10 cho anh chị thửa đất giáp mặt đường 34 cũ làn 2 của mặt đường 398 tại thôn T, xã Đ, huyện Y 200m2 ngang bám mặt đường 10m, chiều sâu 20m, giá là 200.000.000 đồng. Hai bên đã lập “Biên bản bán đất ở gần bến phà Đ” ngày 20/10/2019 có chữ ký của chị H11 vợ chồng anh chị, còn tiền làm sổ đỏ sẽ nộp sau.
- Ngày 15/11/2019, chị H12 tục bán cho anh chị thửa đất thuộc khu vực X, thôn B, xã Đ, huyện Y 27m, chiều rộng 12m, diện tích 324m2 với số tiền là 450.000.000 đồng. Hai bên lập “Giấy mua bán đất” có chữ ký của chị H11 vợ chồng anh chị, nội dung xác nhận anh chị trả trước 200.000.000 đồng, số còn lại và tiền làm sổ sẽ trả sau.
Về việc thanh toán tiền 2 lô đất này thì tổng tiền anh chị phải thanh toán là 650.000.000 đồng, chị H13 trừ tiền anh P4 vật liệu xây dựng là 200.000.000 đồng, tổng còn thiếu là 450.000.000 đồng. Sau đó chị H12 tục cấn trừ tiền anh chị nợ riêng là 305.000.000 đồng, còn lại anh chị nợ 145.000.000 đồng. Số tiền nợ này sau đó tiếp tục được cấn trừ vào tiền chị H14 anh P4 vật liệu. Từ đó coi như vợ chồng anh chị đã thanh toán đầy đủ tổng số tiền mua đất 2 lô này. Việc cấn trừ nợ được chị H15 nhận tại giấy viết tay ngày 26/4/2020 có chữ ký của chị H11 chị H16 xác nhận trong sổ xác nhận công nợ chạy công vật liệu xây dựng của vợ chồng anh chị.
Về tiền làm sổ đỏ hai lô đất trên, mỗi lô hết 200.000.000 đồng thì tổng tiền làm sổ là 400.000.000 đồng, anh chị đã chuyển khoản nhiều lần cho chị H17 tài khoản của chị H18 Ngân hàng N2(A) (có sao kê) đủ số tiền này. Ngoài ra anh chị còn chuyển khoản 60.000.000 đồng tiền cọc thêm tiền lấy giấy tờ mua bán đất với lô đất sau nhà chị H19 anh chị mua ngày 20/10/2019.
Tổng số tiền chuyển cho chị H20 các lô đất trên là 650.000.000 tiền nhận chuyển nhượng đất và 460.000.000 đồng làm sổ và cọc lấy giấy tờ là 1.110.000.000 đồng.
- Ngày 6/2/2021, chị H10 cho anh chị lô đất 5m chiều rộng tại thôn T, xã Đ, huyện Y, sát lô 11m đã mua từ ngày 20/10/2019, làn 2 của đường 398 sau nhà chị H21 đang ở với giá 300.000.000 đồng, lô đất này cạnh nhà ông K. Hai bên có lập “Giấy mua bán đất” có chữ ký của chị H11 vợ chồng anh chị. Chị H15 nhận đã nhận đủ số tiền 300.000.000 đồng này. Việc chuyển số tiền này bao gồm cả chuyển khoản và cấn trừ nợ giữa hai Bên. Để tạo tin tưởng thì chị H22 đưa cho anh chị sổ đỏ của ông Trần Văn H23 khi nào chị H24 sổ đỏ lô đất này thì anh chị trả lại sổ đỏ ông H1cho chị H Như vậy lô đất này tổng số tiền nhận chuyển nhượng mà anh chị đã trả cho chị H25 300.000.000 đồng
- Ngoài ra chị H22 rủ anh chị mua chung lô đất ở xã C, huyện YThời điểm này do chị H14 tiền chạy vật liệu xây dựng của anh chị nên bảo chưa có tiền trả thì lấy bằng đất. Như vậy số tiền mua Lô đất này là cấn trừ từ tiền chị H22 nợ tiền chạy vật liệu xây dựng là 387.000.000 đồng và chị chuyển khoản thêm 60.000.000 đồng, tổng là 447.000.000 đồng. Việc mua bán lô đất này được chị H26 nhận tại giấy viết tay có chữ ký của chị H27 27/8/2023 và trong sổ công nợ chạy vật liệu xây dựng của anh chị.
- Ngoài ra anh chị còn chuyển cho chị H28 bồi dưỡng làm sổ đỏ các lô đất là 100.000.000 đồng để chị H29 bàn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) các lô đất cho anh chị; Chuyển tiền cọc lấy hồ sơ đối với thửa đất mua sau nhà chị H25 30.000.000 đồng.
Tính tổng số tiền mà gia đình anh chị đã thanh toán cho chị H30 nhận chuyển nhượng đất và làm sổ đỏ, tiền bồi dưỡng là 1.987.000.000 đồng. Anh chị nhiều lần yêu cầu chị H31 giao các thửa đất và GCNQSDĐ đối với các thửa đất trên nhưng chị H32 bàn giao.
Nay, anh chị nghi ngờ các thửa đất mà chị H33 bán cho anh chị là không có thật và không phải của cá nhân chị H19 do chị H34 ra thông tin giả vì chị H32 bàn giao được đất cho anh chị, không nói cho anh chị biết thửa đất có số thửa và tờ bản đồ bao nhiêu, tứ cận ra sao. Những thông tin chị H35 trong giấy tờ chỉ là do tự chị H36, anh chị không được bàn giao đất thực tế, do đó anh chị cũng không biết được giá trị thực tế các thửa đất đó. Khi anh chị đến tìm hiểu tại lô đất sau nhà chị H37 chị H32 cho vào. Lô đất ở khu vực X, thôn B, xã Đ, huyện Y người khác quản lý và bảo không phải của chị HCòn lô đất ở C chị không biết vị trí cụ thể ở đâu và có thật hay không. Anh chị đã làm đơn tố cáo ra cơ quan CSĐT Công an tỉnh B cơ quan điều tra hướng dẫn vụ việc dân sự nên hướng dẫn anh chị đề nghị Tòa án giải quyết.
Sau đó anh chị được biết thửa đất trên chưa được cấp GCNQSDĐ thì không được phép giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bên cạnh đó các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên không được lập thành Hợp đồng chuyển nhượng có công chứng theo quy định pháp luật. Do đó các giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh chị và chị H25 vô hiệu.
Anh chị yêu cầu Tòa án tuyên các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh chị và chị Trần Thị Hvô H38, bao gồm:
- “Biên bản bán đất ở gần bến phà Đ” ngày 20/10/2019 và “Giấy mua bán đất” ngày 6/2/2021 đối với thửa đất diện tích 300m2 thuộc thửa đất lớn diện tích 460m2 (23x20m) tại thôn T, xã Đ, huyện Y.
- Giấy mua bán đất” ngày 15/11/2019 đối với thửa đất diện tích 324m2 (12x27m) ở mặt đường C khu vực X, thôn B, xã Đ, huyện Y.
- Giấy viết tay có chữ ký xác nhận của chị H27 27/8/2023 đối với thửa đất ở xã C, huyện Y
- Buộc chị Trần Thị H39 cho vợ chồng anh chị số tiền là 1.987.000.000 đồng.
Bị đơn – chị Trần Thị H40 bày: thửa đất diện tích 300m2 (chiều ngang 15m, sâu 20m, thuộc thửa đất lớn diện tích 460m2 (chiều dài 23x chiều rộng 20m) tại thôn B, xã Đ, huyện Y (mà không phải thôn T giáp mặt đường 34 cũ. Làn 2 của đường 398) như chị Planh Ptrình bày do chị và chồng là anh Nguyễn Văn S đang quản lý, sử dụng. Nguồn gốc thửa đất do chị mua của vợ chồng ông Trần Văn T8 Trần Thị Tlbằng giấy viết tay, đất chưa có sổ đỏ với giá 250.000.000 đồng nhưng giấy chỉ ghi 150,000,000 đồng (chị không có tranh chấp gì với ông T8 T1Thực tế thửa đất có diện tích 345m2, chiều dài 15m, chiều rộng 23m.
Chị mua của vợ chồng ông Nguyễn Quốc T9 Trần Thị H2bằng giấy viết tay nhưng chỉ ghỉ giáp ranh, diện tích 95m2, ghi chiều ngang, chiều sâu, đất chưa có sổ đỏ. Thực tế rộng 5m, chiều dài 23m (chị không có tranh chấp gì với ông T2bà H2
Ngày 20/10/2019, chị bán cho vợ chồng chị Planh Pthửa đất giáp mặt đường 34 cũ làn 2 của mặt đường 398 tại thôn T, xã Đ, huyện Y 200m2, chiều mặt đường 10m, chiều sâu 20m, giá là 200.000.000 đồng. Hai bên đã lập “Biên bản bán đất ở gần bến phà Đ” ngày 20/10/2019 có chữ ký của hai bên, nội dung số tiền mua đất là 200.000.000 đồng, còn tiền làm sổ đỏ sẽ nộp sau. Nhưng thực tế chị Planh Pchưa thanh toán 200.000.000 đồng này cho chị và chị chưa bàn giao đất cho chị Planh P
Ngày 15/11/2019, chị bán cho vợ chồng chị Planh P thửa đất diện tích 324m2 (chiều rộng 12x chiều dài 27m) ở mặt đường C khu vực X, thôn B, xã Đ, huyện Y là 450.000.000 đồng, đất này chưa có sổ đỏ. Chị chưa bàn giao đất này cho chị Planh PSau nhiều lần đòi thì chị P1đã chuyển khoản chị thực nhận 02 lần với tổng số tiền là 400.000.000 đồng nhưng chị P1lại ghi nội dung chuyển khoản là làm sổ đỏ nên chị không đồng ý. Do vậy, giữa chị và chị Planh Pghi gộp chuyển nhượng vào giấy ghi ngày 09/11/2023 trên là 400.000.000 đồng.
Chị có nhận của chị P2 chuyển khoản 60.000.000 đồng nhưng không có nội dung tiền cọc thêm tiền lấy giấy tờ mua bán đất với lô đất sau nhà chị mà vợ chồng chị Planh Pmua ngày 20/10/2019. Số tiền này là tiền làm ăn thanh toán qua lại với nhau nhiều mã. Ngày 06/02/2021, chị và chị Planh Pđã thanh toán hết nợ nần với nhau, lý do các mã chuyển tiền chị P1viết nội dung không đúng sự thật.
Chị xác định việc chị Planh Ptrình bày: “Việc thanh toán tiền 2 lô đất này là 650 triệu đồng, bà H13 trừ tiền anh P4 vật liệu xây dựng là 200 triệu đồng, tổng còn thiếu là 450 triệu đồng. Sau đó bà H12 tục cấn trừ tiền nợ riêng là 305 triệu đồng thì còn lại vợ chồng anh chị nợ 145 triệu đồng. Số tiền nợ này sau đó tiếp tục được cấn trừ vào tiền bà H14 anh P4 vật liệu. Từ đó coi như vợ chồng anh chị đã thanh toán đầy đủ tổng số tiền mua đất 2 lô này. Việc cấn trừ nợ được bà H15 nhận tại giấy viết tay ngày 26/4/2020 có chữ ký của bà H11 bà H16 xác nhận trong sổ xác nhận công nợ chạy công vật liệu xây dựng của vợ chồng anh chị” là không đúng và chị có ký giấy viết tay ngày 26/4/2020 này nhưng không biết nội dung.
Thực tế ngày 09/9/2019 và ngày 13/9/2019 chị thanh toán cho chị Planh P94.000.000 đồng tiền vật liệu. Từ năm 2019 đến 2021 chị trả cho anh P5 dầu gần 100.000.000 đồng. Ngày 13/3/2020, chị thanh toán cho chị Planh P60.000.000 đồng tiền vật liệu và ký nhận với chị không mua bán lô đất nào. Ngày 18/3/2020, chị thanh toán cho chị P1anh P40.000.000 đồng tiền vật liệu. Ngày 24/4/2022, chị thanh toán cho chị Planh P61.000.000 đồng tiền vật liệu. Toàn bộ tiền vật liệu, thanh toán tiền đầu này không liên quan đến tranh chấp.
Chị xác định: tổng số tiền chuyển cho bà H20 các lô đất trên là 650.000.000 đồng tiền nhận chuyển nhượng đất và 460.000.000 đồng tiền làm sổ và cọc lấy giấy tờ, tổng 1.110.000.000 đồng là không đúng sự thật mà là tiền làm ăn với nhau và chị cùng anh P3 P1đã thanh toán với nhau bằng tiền.
Ngày 06/02/2021, chị bán cho chị Planh Pdiện tích 100m2, có chiều ngang 05 m, chiều sâu 20m (nằm trong diện tích 460m2 đất trên) với giá 500.000.000 đồng nhưng chỉ ghi số tiền chị thực nhận là 300.000.000 đồng (nhưng thực tế chị chỉ nhận 200.000.000 đồng, chị Planh Pnợ lại 200.000.000 đồng. Chị có đưa 01 GCNQSDĐ mang tên ông Trần Văn H41(sinh năm 1954 cư trú: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giangđã chết năm 2014) để chị Planh P6 vay tiền (Chị làm giúp thủ tục đất cho ông Trần Văn H42 chị không mua bán, chuyển nhượng gì đất của ông H1với chị Planh PKhi nào chị làm sổ đỏ này cho chị P7 chị P1trả lại sổ đỏ của ông H1và chị P1trả lại hết tiền cho chị. Chị có trách nhiệm làm sổ đỏ cho chị Planh Pđối với 100m2 này nhưng sau đó chị P1anh P8 lấy lại toàn bộ giấy tờ và không nhờ chị làm sổ đỏ nữa.
Chị xác định: không có việc chị rủ vợ chồng chị Planh P mua chung lô đất ở xã C, huyện Y. Không có việc chị nợ tiền chạy vật liệu xây dựng của vợ chồng chị Planh Pvà không có việc chị bảo chưa có tiền trả thì lấy bằng đất. Không có việc chị cấn trừ từ tiền nợ chạy vật liệu xây dựng là 387.000.000 đồng và không có việc chị P1chuyển khoản thêm 60.000.000 đồng, tổng là 447.000.000 đồng. Chị xác nhận ngày 27/8/2023 có viết, ký giấy việc mua bán lô đất này nhưng giữa chị và chị P1đã xác nhận năm 2021, 2022 là đã thanh toán hết và không mua bán lô đất nào. Đến năm 2023 chị Plký kết với chị 02 tờ sẽ lấy gọn vào 01 lô đất diện tích 320m2, chiều ngang là 16m, rộng 20m và tất cả các khoản tiền đã thanh toán xong và nhờ chị viết 01 giấy ngày 27/8/2023 xác nhận bán cho các lô đất để nói với gia đình chồng. Ngược lại chị P1ký cho chị Ogiấy nếu chị Planh Pkiện chị thì chị P1chịu trách nhiệm.
Chị có nhận 100.000.000 đồng tiền chị Planh P9 nhưng lại ghi tiền bồi dưỡng và chị đã trả lại tiền và có thanh toán lại cho chị Planh Pbằng tiền mặt và đã xác nhận với chị.
Chị không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Planh Pnêu trên. Chồng chị là anh Nguyễn Văn S không liên quan đến giao dịch và không nhận tiền trên. Việc giao dịch trên là tiền riêng của chị, không liên quan đến tài sản chung vợ chồng chị.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Nguyễn Văn S trình bày: Anh xác định các mã giao dịch tiền bạc mua bán đất và làm ăn mà anh Ngô Đức Pchị Nguyễn Thị P2 với vợ anh là Trần Thị H43 nhiều lần bảo anh ký nhưng anh chưa nhận được tiền nên anh không ký. Anh không liên quan đến giao dịch, không liên quan đến tài sản chung hai vợ chồng anh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - anh Trần Văn Tchị Trần Thị T10 cùng thống nhất trình bày: ngày 01/12/2019, vợ chồng anh chị có nhượng bán cho chị Trần Thị H44 tích 315m2 đất chưa có sổ đỏ, địa chỉ đât tại: thôn T, xã Đ, huyện Y đất nhà ông K2 giá 150.000.000 đồng. Anh chị đã nhận đủ tiền. Anh chị không có tranh chấp hoặc yêu cầu gì.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Nguyễn Quốc T11 trình bày: ngày 01/1/2012, ông có nhượng bán cho chị Trần Thị H45 đất có chiều rộng 20, chiều dài 27m đất chưa có sổ đỏ, địa chỉ đât tại: xứ đồng V1 (tên khác là X2 C1thôn B, xã Đ, huyện Y Hội đồng thẩm định ngày 08/8/2024 với giá 600.000.000 đồng. Ông đã nhận đủ tiền. Ông xác định đây là là tài sản riêng của ông, không liên quan tài sản chung vợ chồng ông. Ông không có tranh chấp gì, đề nghị không đưa vợ chồng ông tham gia tố tụng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - UBND xã Đ ông Nguyễn Thế Đương đại D bày: việc Tòa án đề nghị xác định nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng và việc cấp GCNQSDĐ, sự phù hợp với quy hoạch tại các thửa đất: thửa đất số 565, tờ bản đồ số 60 diện tích 460m2 và phần diện tích 300m2 sau khi kiểm tra đối chiếu bản đồ địa chính chính quy xã Đtại tờ bản đồ số 60 không có thửa đất số 565 (diện tích 460m2 và diện tích 300m2). Thửa đất số 84, tờ bản đồ số 60 (12m rộng x 27m dài) trên bản đồ thuộc đất giao thông do UBND xã quản lý, UBND xã không giao cho tổ chức, cá nhân nào sử dụng. “Việc hai bên chuyển nhượng các thừa đất không được GCNQSDĐ có trong bản đồ địa chính là trái quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Trần Thị H46 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án để làm việc.
Với những nội nội dung trên, bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng đã căn cứ Điều 164, Điều 167, Điều 168, Điều 188 Luật đất đai 2013, Điều 7, khoản 03 Điều 27 Luật đất đai; Điều 119, Điều 123, Điều 129, Điều 131, Điều 132, Điều 398, Điều 407, Điều 500, Điều 501, Điều 502 của BLDS. xử: không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Đức Pchị Nguyễn Thị P2 về việc tuyên các Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Ngô Đức Pchị Nguyễn Thị P2 và chị Trần Thị Hvô H38, bao gồm:
- Biên bản bán đất ở gần bến phà Đ ngày 20/10/2019 và Giấy mua bán đất ngày 6/2/2021 đối với thửa đất diện tích 300m2 thuộc thửa đất lớn diện tích 460m2 (23x20m) tại thôn T, Đ, Y, Bắc Giang.
- Giấy mua bán đất ngày 15/11/2019 đối với thửa đất diện tích 324m2 (12x27m) ở mặt đường C khu vực X, thôn B, xã Đ, Y, Bắc Giang.
- Giấy viết tay có chữ ký xác nhận của chị H27 27/8/2023 đối với thửa đất ở xã C, Y, Bắc Giang
- Buộc chị Trần Thị H39 cho vợ chồng anh Ngô Đức Pchị Nguyễn Thị P2 số tiền là 1.987.000.000 đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/9/2024, anh Ngô Đức Pchị Nguyễn Thị P10 cáo đề nghị cấp phúc thẩm huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, áp dụng sai pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và kháng cáo. Các đương sự không thoả thuận được với nhau về toàn bộ nội dung vụ án.
Tranh luận:
Luật sư Ltrình bày qua diễn biến tại phiên toà phúc thẩm và các tài liệu thể hiện việc mua bán đất là bản gốc do nguyên đơn cung cấp tại cấp phúc thẩm, bị đơn thừa nhận có ký vào các giấy tờ mua bán này nên có căn cứ khẳng định các bên có thực hiện các giao dịch trên cùng với các bản sao kê tài khoản ngân hàng thể hiện chuyển tiền giữa các bên. Việc chị H32 thừa nhận số tiền nhận của nguyên đơn như nguyên đơn trình bày là không có căn cứ. Căn cứ vào quy định của Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành thì thấy các giao dịch chuyển nhượng đất giữa hai bên là vô hiệu nên các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và cũng được Toà án sơ thẩm nhận định, tuy nhiên do nguyên đơn không cung cấp bản chính các giấy tờ mua bán này nên Tòa án sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tại cấp phúc thẩm nguyên đơn đã cung cấp bản gốc các giấy mua bán này nên có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Các tài liệu phía bị đơn cung cấp có nhiều mâu thuẫn, có dấu hiệu của việc việc chèn, tẩy xoá nội dung để có lợi cho bị đơn, thể hiện việc bị đơn làm giả tài liệu để chiếm đoạt tài sản của nguyên đơn. Mặt khác bị đơn không tiến hành làm sổ đỏ nhưng thực tế đã nhận tiền làm sổ đỏ của nguyên đơn, sau đó không làm nhưng cũng không trả lại tiền cho nguyên đơn. Đề nghị HĐXX huỷ bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại và cấp sơ thẩm tách tài liệu liên quan đến hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị H47 sang cơ quan điều tra làm rõ.
Anh P3 P1nhất trí với ý kiến tranh luận của các Luật sư L4 bổ sung gì thêm.
Chị H48 mặt tại phiên toà ngày 21/02/2025.
Tham gia phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi mở phiên tòa và tại phiên tòa, Thẩm phán, HĐXX, Thư ký đã thực hiện đúng, đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS), nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng các quyền nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS. Sau khi xem xét yêu cầu kháng cáo của anh Ngô Đức Pchị Nguyễn Thị P2, phân tích nội dung, các tình tiết của vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của anh P3 P1; áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ LTTDS hủy bản án sơ thẩm; chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án; anh P3 P1không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1] Về tố tụng: một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 296 của BLTTDS tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.
[2] Xét kháng cáo của anh P3 HHĐXX thấy: anh Ngô Đức P3 Nguyễn Thị Phương trình B giữa anh P3 P1và chị Trần Thị H43 thỏa thuận mua đất 04 lần và ký kết, thanh toán tiền mua đất, tiền làm sổ đỏ, tiền cọc thêm tiền lấy giấy tờ mua bán đất, tiền bồi dưỡng làm sổ đỏ với tổng số tiền 1.987.000.000 đồng. Tuy nhiên phía anh P3 P1thừa nhận không được bàn giao các thửa đất, lô đất mà chị H49 trên. Các bên không có văn bản chốt nợ, thanh toán giao dịch mua bán đất trên. Các sao kê chuyển tiền mua đất do nguyên đơn cung cấp không thể hiện vị trí, diện tích, địa chỉ cụ thể, rõ ràng và số tiền sao kê chuyển tiền cho chị H50 không khớp và ít hơn số tiền 1.987.000.000 đồng theo như anh P3 P1khai. Địa chỉ thửa đất, lô đất mà anh P3 P1nhận chuyển nhượng ghi trong đơn khởi kiện là thôn T, xã Đ khác với địa chỉ khi đi thẩm định ngày 8/8/2024 là thôn B, xã Đ
[3] Phía chị H26 nhận việc chuyển nhượng đất cho anh P3 P1như các giấy tờ phô tô mà anh P3 P1cung cấp gồm các giấy ngày 20/10/2019, ngày 15/11/2019 và ngày 06/02/2020 (bút lục số 97, 98) nhưng không thừa nhận đã nhận tiền khi bán đất như chị Planh Ptrình bày. Chị H15 định là các giao dịch làm ăn khác và không liên quan đến việc mua bán đất.
[4] Như vậy, việc nguyên đơn xuất trình 03 bản phô tô giấy tờ mua bán đất trên và được bị đơn thừa nhận là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của BLTTDS. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định do nguyên đơn không cung cấp bản gốc các hợp đồng này mặc dù đã được Tòa án ra quyết định yêu cầu cung cấp chứng cứ nên không có căn cứ để tuyên vô hiệu các hợp đồng trên và từ đó không giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là chưa đảm bảo quy định của pháp luật.
[5] Các giấy tờ khác mà các đương sự giao nộp về nội dung thanh toán các khoản tiền vay, tiền mua bán đất, tiền vật liệu xây dựng, các sao kê tài khoản ngân hàng liên quan đến việc thanh toán tiền nhận chuyển nhượng đất có nhiều mâu thuẫn chưa được làm rõ. Vì vậy các đương sự cần chứng minh cho việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng các bên đã ký để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
[6] Các giấy tờ do bị đơn cung cấp (từ bút lục 170 đến bút lục 174) thể hiện không còn nguyên vẹn, nguyên đơn không thừa nhận toàn bộ nội dung và cho rằng có việc viết thêm, viết chèn như giấy viết năm 2020 nhưng lại có nội dung thanh toán đến năm 2022, nhiều chỗ bị tẩy xóa, sửa chữa, nhiều loại mực khác nhau nhưng cũng chưa được làm rõ.
[7] Theo cung cấp của UBND xã Đthì thửa đất số 565, tờ bản đồ số 60 diện tích 460m2 (23 x 20m) và phần diện tích 300m2 (15m rộng x 20m dài) sau khi kiểm tra đối chiếu bản đồ địa chính, chính quy xã Đtại tờ bản đồ số 60 không có thửa đất số 565 (diện tích 460m2 và diện tích 300m2). Thửa đất số 84, tờ bản đồ số 60 (12m rộng x 27m dài) trên bản đồ thuộc đất giao thông do UBND xã Đ, UBND xã Đkhông giao cho tổ chức, cá nhân nào sử dụng.
Lô đất ở xã C, huyện Y viết tay mà anh P3 P1cho rằng có chữ ký xác nhận của chị H27 27/8/2023 mà anh P1chị P1khai mua chung với chị H37 thực tế không có lô đất này.
[8] Như vậy việc chị H11 anh P3 P1 lập các giấy tờ mua bán đất ngày 20/10/2019, ngày 15/11/2019 và ngày 06/02/2020 đối với các thửa đất nêu trên khi chị H51 được cấp GCNQSDĐ, không đúng vị trí các thửa đất, ghi thiếu thông tin diện tích đất chuyển nhượng là vô hiệu về hình thức, nội dung theo quy định tại Điều 119, Điều 123, Điều 129 của Bộ luật dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh P3 P1là không đảm bảo quy định của pháp luật.
[9] Do Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chưa giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu. Vì vậy, mặc dù tại cấp phúc thẩm, anh P3 P1đã giao nộp bản gốc các giấy tờ mua bán đất trên và các chứng từ chuyển khoản thanh toán tiền mua đất để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình nhưng HĐXX giải quyết ngày các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn gồm cả yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu là số tiền 1.987.000.000 đồng sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của chị H
Để đảm bảo nguyên tắc xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, HĐXX thấy cần chấp nhận kháng cáo của anh P3 P1hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm như đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa.
[10] Về án phí và chi phí tố tụng:
- Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: do hủy bản án sơ thẩm nên sẽ được xem xét, giải quyết khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo của anh Ngô Đức P3 Nguyễn Thị P1được chấp nhận nên anh P3 P1không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự. Xử:
- Chấp nhận kháng cáo của anh Ngô Đức Pchị Nguyễn Thị P2, huỷ bản án dân sự sơ thẩm số 26/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Yên Dũng (nay là Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang), tỉnh Bắc Giang. Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí và chi phí tố tụng:
- Về chi phí tố tụng và án phí dân sự sơ thẩm: sẽ được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, quyết định khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: anh Ngô Đức Pchị Nguyễn Thị P11 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả anh P 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0005360 ngày 15/10/2024; Hoàn trả chị P1 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0005361 ngày 15/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 31/2025/DS-PT ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 31/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
