|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2025/HS-ST Ngày 17-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Văn Cường;
- Bà Bùi Thị Thúy Lan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Trọng An, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 453/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-HS ngày 05/02/2025 đối với bị cáo:
Phạm Ngọc C, sinh năm 1987 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Thôn A, xã S, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: phụ hồ; trình độ học vấn: 02/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam, con ông Phạm Ngọc S, sinh năm 1965 (đã chết) và bà Trần Thị T, sinh năm 1961; bị cáo có 01 anh sinh năm 1983; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- - Ngày 01/10/2003, Phạm Ngọc C bị Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An ra Quyết định số 686/QĐ-UB ngày 01/10/2003 về việc đưa vào trường giáo dưỡng, chấp hành xong ngày 01/8/2005.
- - Ngày 17/11/2006, Phạm Ngọc C bị Ủy ban nhân dân tỉnh N ra Quyết định số 4379/QĐ-UBND.NC ngày 17/11/2006 về việc áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở giáo dục về hành vi Trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 09/11/2008.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố D từ ngày 16/9/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Võ Văn A, sinh năm 1975; địa chỉ: Số F, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Thị N, sinh năm 1980; địa chỉ: F, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người làm chứng:
- + Chị Võ Lê Phương Â, vắng mặt.
- + Anh Hoàng Văn P, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Ngọc C sinh sống tại số D, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương và là hàng xóm của ông Võ Văn A, sinh năm 1975, thường trú: Xóm C, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An). Quá trình sinh sống, C có qua nhà ông A tại số F, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương chơi nên biết nhà ông A bị hư cửa chính và trên mái tôn ngoài sân trước nhà có một lỗ hổng. Do thiếu tiền tiêu xài nên C nảy sinh ý định đột nhập vào nhà ông A để trộm cắp tài sản. Trong khoảng thời gian từ ngày 20/8/2024 đến ngày 14/9/2024, Phạm Ngọc C đã có 03 (ba) lần đột nhập vào nhà ông A, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 23 giờ 00 phút không rõ ngày trong tháng 08/2024, Phạm Ngọc C lợi dụng lúc vợ chồng ông A đi làm, C lén lút leo hàng rào chui qua lỗ hổng trên mái tôn trước sân nhà ông A rồi đi vào trong nhà. Khi vào nhà, C thấy trên xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Airbalde, màu đen, biển số: 61D1–199.41, dựng ở phòng khách có treo một túi nylon ở móc ba ga xe, bên trong chứa một cái ví màu đỏ. Cảnh tiến tới xe và lấy ví màu đỏ mở ra kiểm tra thì thấy bên trong có 1.000.000 đồng (một triệu đồng) nên lấy hết số tiền trong ví và để ví lại vị trí cũ. Sau đó, trèo rào qua lỗ hổng của mái tôn ra ngoài quay về phòng trọ, số tiền chiếm đoạt được C đã tiêu xài hết.
Lần thứ hai: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 31/8/2024, Phạm Ngọc C lợi dụng lúc vợ chồng ông A đi làm, tiếp tục lén lút trèo vào nhà ông A theo lối cũ nơi lỗ hổng của mái tôn để trộm cắp tài sản. Cảnh vào nhà lục tìm tài sản, khi vào khu vực bếp nhà ông A, C thấy trên ghế ngồi bàn ăn cơm có một ví da màu nâu, mở ví ra thấy bên trong có một xấp tiền polime, mệnh giá 500.000 nghìn, C lấy toàn bộ số tiền đó và để ví lại vị trí cũ, rồi trèo rào qua lỗ hổng ra ngoài đi về phòng trọ. Khi về phòng trọ, C đếm lại số tiền có tổng cộng 100 tờ P1, mệnh giá 500.000 nghìn đồng, trị giá là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng chẵn). Số tiền chiếm đoạt được, C đã tiêu xài cá nhân hết.
Lần thứ ba: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 14/9/2024, Phạm Ngọc C tiếp tục đột nhập vào nhà ông A theo lối vào cũ như hai lần trước để trộm cắp tài sản. C đi xuống bếp lục tìm nhưng không có tài sản gì nên đi vào phòng ngủ của con gái ông A thì thấy trên nền nhà gần cửa phòng có 01 (một) ví màu đỏ. C mở ví ra thấy có 800.000 đồng (tám trăm ngàn đồng), C lấy hết số tiền trong ví và để ví lại vị trí cũ.
Sau đó, leo rào theo lối cũ ra ngoài đi về phòng trọ. Số tiền chiếm đoạt được, C đã tiêu xài cá nhân hết.
Tổng số tiền Phạm Ngọc C đã chiếm đoạt là 51.800.000 (năm mươi mốt triệu tám trăm nghìn) đồng
Ngày 16/9/2024, ông Võ Văn A phát hiện bị mất tài sản nên đến Công an phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương trình báo sự việc. Sau đó, Phạm Ngọc C đến Công an phường T tự thú khai nhận toàn bộ sự việc như trên.
- Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) ví da màu đỏ, đề nhãn hiệu Classic & Modern
- 01 (một) ví da màu nâu có hoa văn chữ Saoini;
- 01 (một) USB màu đen, nhãn hiệu Hoco có chứa hình ảnh camera liên quan đến vụ trộm cắp tài sản;
- 01 (một) áo thun ngắn tay, màu trắng;
- 02 (hai) quần đùi màu đen;
- 01 (một) quần đùi màu xanh;
- 01(một) áo thun màu nâu;
- 01 (một) áo thun ngắn tay, màu đen;
- 01 (một) đôi dép tổ ong màu vàng.
Tại cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 30 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Phạm Ngọc C về Tội trộm cắp tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Phạm Ngọc C mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
- Xử lý vật chứng:
Đối với 01(một) ví da màu đỏ, đề nhãn hiệu Classic & Modern và 01 (một) ví da màu nâu có hoa văn chữ Saoini. Đây là tài sản của ông Võ Văn A, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại tài sản trên cho ông A.
Đối với 01 (một) USB màu đen, nhãn hiệu Hoco có chứa hình ảnh camera liên quan đến vụ trộm cắp tài sản. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trưng cầu trích xuất dữ liệu hình ảnh camera, nên lưu hồ sơ vụ án.
Đối với 01 (một) áo thun ngắn tay, màu trắng; 02 (hai) quần đùi màu đen; 01 (một) quần đùi màu xanh; 01(một) áo thun màu nâu; 01 (một) áo thun ngắn tay, màu đen; 01 (một) đôi dép tổ ong màu vàng, đây là những vật dụng cá nhân của Phạm Ngọc C đã sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, không còn giá trị, cần tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Ngọc C đã chiếm đoạt 51.800.000 (năm mươi mốt triệu tám trăm nghìn) đồng của ông Võ Văn A. Bà Lê Thị N (là vợ của ông A) xác định số tiền 51.800.000 (năm mươi mốt triệu tám trăm nghìn) đồng là tài sản riêng của ông A. Ông Võ Văn A yêu cầu Phạm Ngọc C phải bồi thường số tiền 51.800.000 (năm mươi mốt triệu tám trăm nghìn) đồng, nên buộc Phạm Ngọc C phải bồi thường cho ông A.
Trong quá trình điều tra bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: khoảng thời gian từ ngày 20/8/2024 đến ngày 14/9/2024, Phạm Ngọc C đã 03 (ba) lần lén lút đột nhập vào nhà ông Võ Văn A, tại số F, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương để trộm cắp tài sản. Tổng trị giá tài sản Phạm Ngọc C đã chiếm đoạt là 51.800.000 (năm mươi mốt triệu tám trăm nghìn) đồng. Hành vi của Phạm Ngọc C đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ, đảm bảo đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo tự thú đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
[6] Về nhân thân: bị cáo đã từng bị Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An ra Quyết định số 686/QĐ-UB ngày 01/10/2003 về việc đưa vào trường G; bị Ủy ban nhân dân tỉnh N ra Quyết định số 4379/QĐ-UBND.NC ngày 17/11/2006 về việc áp dụng biện pháp đưa vào Cơ sở giáo dục về hành vi Trộm cắp tài sản.
[7] Về hình phạt:
- Về hình phạt chính: Bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Ngọc C đã chiếm đoạt 51.800.000 (năm mươi mốt triệu tám trăm nghìn) đồng của ông Võ Văn A. Bà Lê Thị N (là vợ của ông A) xác định số tiền 51.800.000 (năm mươi mốt triệu tám trăm nghìn) đồng là tài sản riêng của ông A. Ông Võ Văn A yêu cầu Phạm Ngọc C phải bồi thường số tiền 51.800.000 (năm mươi mốt triệu tám trăm nghìn) đồng, nên buộc Phạm Ngọc C phải bồi thường cho ông A.
[9] Về xử lý vật chứng:
- + 01 (một) ví da màu đỏ, đề nhãn hiệu Classic & Modern và 01 (một) ví da màu nâu có hoa văn chữ Saoini, đây là tài sản của ông Võ Văn A, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã trả lại tài sản trên cho ông A là phù hợp.
- + Đối với 01 (một) áo thun ngắn tay, màu trắng; 02 (hai) quần đùi màu đen; 01 (một) quần đùi màu xanh; 01(một) áo thun màu nâu; 01 (một) áo thun ngắn tay, màu đen; 01 (một) đôi dép tổ ong màu vàng, đây là những vật dụng cá nhân của Phạm Ngọc C đã sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, không còn giá trị, cần tịch thu tiêu hủy.
[10] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố D đề nghị về áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, đối với bị cáo là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Riêng mức hình phạt đại diên Viện kiểm sát đề nghị là nặng hơn so với hành vi phạm tội của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt thấp hơn đại diện viện kiềm sát đề nghị.
[11] Án phí sơ thẩm: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc C phạm Tội trộm cắp tài sản.
Áp dụng Điểu 38, điểm c khoản 2 Điều 173, điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc C 02 (hai) 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/9/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự.
Buộc bị cáo Phạm Ngọc C phải bồi thường số tiền 51.800.000 (năm mươi mốt triệu tám trăm nghìn) đồng cho ông Võ Văn A.
Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu mức lãi suất theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
- Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) áo thun ngắn tay màu trắng; 02 (hai) quần đùi màu đen; 01 (một) quần đùi màu xanh; 01(một) áo thun màu nâu; 01 (một) áo thun ngắn tay, màu đen; 01 (một) đôi dép tổ ong màu vàng.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 31/12/2024).
- Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Phạm Ngọc C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.590.000 (hai triệu năm trăm chín mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thắm |
Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 35/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc C phạm tội trộm cắp tài sản theo điểm c khoản 2 Điều 173
