|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2025/HSST
Ngày: 14-02-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Loan
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Bằng và ông Tạ Văn Đài
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Huyền - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, Tòa án tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 353/2024/HSST, ngày 27/12/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS, ngày 09/01/2025 và Thông báo dời lịch xét xử số: 01/TB-TA, ngày 17/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom đối với bị cáo:
1. Ngô Minh S, sinh năm 1993, tại: Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Minh T (đã chết) và bà Nguyễn Thị H; Tiền án:
- + Ngày 19/9/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm 03 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và “Cướp giật tài sản” tại bản án số 139/2010/HSST. Chấp hành xong ngày 01/02/2014.
- + Ngày 11/8/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” tại bản án số 140/2015/HSST. Chấp hành xong ngày 02/02/2018.
- + Ngày 10/5/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại bản án số 71/2019/HSST.
- + Ngày 12/8/2019, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp với mức hình phạt 10 tháng tù giam của bản án số 71/2019/HSST, ngày 10/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom. Buộc bị cáo phải chấp hành chung là 05 năm 04 tháng tù giam về tội “Trộm cắp và cướp giật tài sản” tại Bản án số 369/2019/HS-ST. Chấp hành xong ngày 01/9/2023.
Tiền sự: không. Bị cáo bị giam giữ từ ngày 21/10/2024. (Có mặt).
2. Kim Quốc A, sinh năm 1994, tại: Đồng Nai. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã G, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Kim Văn S1 và bà Đỗ Thị Ngọc L; Bị cáo có vợ và 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị giam giữ từ ngày 21/10/2024 đến ngày 30/10/2024. (Có mặt).
- Bị hại:
- + Chị Nguyễn Thị Vân A1, sinh năm 1991;
- + Anh Đặng Văn C, sinh năm 1988.
Cùng địa chỉ: Ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngô Minh S và Kim Quốc A là bạn bè với nhau và không có nghề nghiệp ổn định, các đối tượng rủ nhau đi trộm cắp tài sản bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân. Vào khoảng 19 giờ ngày 17/10/2024, S rủ Quốc A tìm nhà dân có tài sản sơ hở để trộm cắp thì Quốc A đồng ý. Khi về đến nhà, S sử dụng điện thoại hiệu S2 M50 liên lạc cho Quốc A qua điện thoại di động Iphone 5SE. Quốc A đã rủ S đến nhà anh Đặng Văn C (trú tại: đường B, ấp T, xã B, huyện T) là hàng xóm của Quốc A để trộm cắp tài sản. Đến khoảng 13 giờ 30 ngày 18/10/2024, Quốc A dùng xe mô tô Wave (không rõ biển số) chở S đến nhà anh C. Khi đến đầu đường B, ấp T, xã B, huyện T thì S xuống đi bộ còn Quốc A điều khiển xe mô tô đi về nhà rồi ra cây cột điện cúp nguồn điện (CP) để ngắt kết nối Camera nhà anh C. Sau khi vào được bên trong nhà anh C, S đã gọi cho Quốc A đưa cho S 01 cái mỏ lết (màu trắng bạc dài 25 cm), S dùng mỏ lết phá song cửa sổ nhà anh C và chui vào bên trong, S vào trong 02 phòng ngủ của gia đình anh C và đã chiếm đoạt 02 máy tính xách tay (01 máy tính nhãn hiệu HP 01 máy tính nhãn hiệu DELL) và 01 con heo đất bên trong có 278.000 đồng. Quốc A đứng bên sân nhà của mình để cảnh giới cho S thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình trộm cắp tài sản thì S đánh rơi lại 01 ba lô bên trong có 01 ví da màu nâu; 01 Căn cước công dân mang tên Ngô Minh S; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Ngô Minh T; 01 áo mưa; 01 con dao cán gỗ nhọn dài khoảng 20cm. Đến 15 giờ cùng ngày, Quốc A sang nhà S xem đã trộm cắp được những gì thì S cho biết đã lấy được 02 máy tính xách tay và 278.000 đồng. Sáu chia cho Quốc A 01 máy tính xách tay nhưng Quốc A không lấy mà nói S đưa tiền cho mình. Sau đó, S đã chuyển khoản 02 lần cho Quốc A với tổng số tiền là 600.000 đồng qua tài khoản MOMO số 0393.739.231 mang tên Mai Thị H1 là vợ của Quốc A.
Sau khi bị mất tài sản, chị Nguyễn Thị Vân A1 (vợ của anh C) đã đến Công an xã B để trình báo sự việc. Đến 11 giờ 30 ngày 20/10/2024, Công an xã B đã tiến hành kiểm tra hành chính nhà của Ngô Minh S và phát hiện 02 máy tính xách tay mà S đã chiếm đoạt được của nhà anh C. Quá trình điều tra xác minh Ngô Minh S và Kim Quốc A đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của minh như trên (Bút lục số: 100- 114; 121-133; 134-142).
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 116/KL-HĐĐGTS ngày 28/10/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T như sau: “Tổng tài sản thẩm định trong vụ: Trộm cắp tài sản, xảy ra ngày 18/10/2024 tại ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai là: 5.000.000 đồng.” (Bút lục số: 154 – 159).
Ngày 29/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Ngô Minh S và Kim Quốc A, Lệnh tạm giam đối với Ngô Minh S về tội “Trộm cắp tài sản” để điều tra. Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
- Về phần dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Ngô Minh S đã bồi thường số tiền 278.000 đồng cho bị hại.
Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKSTB, ngày 24/12/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố bị cáo Ngô Minh S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo Kim Quốc A về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng:
- - Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Ngô Minh S từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù;
- - Khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Kim Quốc A từ 06 đến 09 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Tòa án tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 02 điện thoại di động (01 điện thoại Iphone 5SE và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy M50); tịch thu tiêu hủy 01 mỏ lết màu trắng bạc dài 25cm.
Về án phí: Buộc các bị cáo, mỗi người phải nộp 200.000 đồng án phí HSST theo quy định.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vào khoảng 13 giờ ngày 18/10/2024 tại ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Ngô Minh S và Kim Quốc A đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của gia đình Nguyễn Văn C1 02 máy tính xách tay (01 máy tính nhãn hiệu HP 01 máy tính nhãn hiệu DELL) trị giá 5.000.000 đồng và 01 con heo đất bên trong có 278.000 đồng. Tổng trị giá trị tài sản mà Ngô Minh S và Kim Quốc A chiếm đoạt của gia đình anh Nguyễn Văn C1 là: 5.278.000 đồng (Năm triệu hai trăm bảy mươi tám nghìn đồng). Bị cáo Ngô Minh S đã tái phạm (có 04 tiền án), chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên hành vi bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 BLHS. Hành vi bị cáo Kim Quốc A thực hiện đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
[2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi các bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của các bị cáo thực hiện mang tính chất đồng phạm nhưng chỉ dừng ở mức độ giản đơn. Ngô Minh S là người khởi sướng việc trộm cắp, còn Kim Quốc A là người chỉ nhà của vợ chồng anh C1, chị A để S vào trộm cắp, Kim Quốc A cung cấp dụng cụ (mỏ lết), tắt nguồn điện nhà bị hại và giữ vai trò cảnh giới nên cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi các bị cáo đã thực hiện.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thì thấy: Bị cáo Ngô Minh S có nhân thân xấu, đã bị xét xử rất nhiều lần về các tội xâm phạm sở hữu nhưng không lấy đó làm bài học mà vẫn tiếp tục phạm tội. Bị cáo Kim Quốc A phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo Ngô Minh S đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Xử lý vật chứng:
- [4.1] Cần tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước 02 điện thoại di động (01 điện thoại Iphone 5SE và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy M50); tịch thu tiêu hủy 01 mỏ lết màu trắng bạc dài 25cm.
- [4.2] Đối với 02 máy tính xách tay (01 máy tính nhãn hiệu HP 01 máy tính nhãn hiệu DELL) là tài sản của anh C1, chị A nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho anh chị là có căn cứ.
- [4.3] Đối với 01 ví da màu nâu; 01 Căn cước công dân mang tên Ngô Minh S; 01 giấy phép lái xe hạng A1 mang tên Ngô Minh T; 01 điện thoại Vivo A29 màu đen, gắn sim số: 0899.033.136; 01 ba lô màu đen; 01 áo mưa; 01 con dao cán gỗ nhọn dài khoảng 20cm và 600.000 đồng là của Ngô Minh S, bị cáo không sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho bị cáo S.
- [4.4] Đối với xe mô tô (không rõ biển số) mà các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Quá trình điều tra bị cáo S khai nhận là mượn của 01 đối tượng tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) ngoài xã hội, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã trả lại cho T1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để thu giữ.
[5] Về phần dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Ngô Minh S đã bồi thương số tiền 278.000 đồng cho bị hại. Các bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về dân sự nên HĐXX không xem xét.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt thì thấy phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[8] Xét tính hợp pháp của các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thấy đúng quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Ngô Minh S phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Ngô Minh S 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/10/2024.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173 điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Kim Quốc A phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Kim Quốc A 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị áp giải chấp hành án phạt tù nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị giam giữ từ ngày 21/10/2024 đến ngày 30/10/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 02 điện thoại di động (01 điện thoại Iphone 5SE và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy M50);
- - Tịch thu tiêu hủy 01 mỏ lết màu trắng bạc dài 25cm.
(Vật chứng hiện đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Trảng Bom theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/12/2024).
- Về án phí: Căn cứ điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Ngô Minh S, Kim Quốc A mỗi người phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, người có mặt tính từ ngày tuyên án, người vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Ngọc Loan |
Bản án số 35/2025/HSST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về vụ án hình sự về tội "trộm cắp tài sản"
- Số bản án: 35/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Trộm cắp tài sản"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
