Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 07-02-2025

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

——————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hải Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;
  • 2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thuý An – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 524/2024/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 277/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2025/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Yến O, sinh năm 1984; HKTT: Số I, ấp A, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Tạm trú: Số B, đường số A, khu dân cư A, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương;

- Bị đơn: Ông Trần Phong T, sinh năm 1987; HKTT: SỐ I, ấp A, xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; Tạm trú: Số B, đường số A, khu dân cư A, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Nguyên đơn bà O vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông T vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện nộp ngày 10/10/2024, quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến O trình bày:

Bà O và ông Trần Phong T chung sống với nhau từ năm 2015, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận kết hôn số 132/2015, quyển số 01/2015 ngày 31/12/2015.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên tranh cãi. Cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm mục đích hôn nhân không đạt được.

Nay, bà O xác định tình cảm giữa bà O và ông T không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Trần Phong T.

Quá trình chung sống bà O và ông T có 01 con chung tên Trần Đăng K, sinh ngày 14/11/2016. Sau khi ly hôn, bà O nhận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Trần Đăng K, sinh ngày 14/11/2016. Bà O yêu cầu ông Trần Phong T cấp dưỡng nuôi con chung cháu Trần Đăng K 2.000.000 (hai triệu đồng)/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Bà O không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

Ngoài ra, bà O không có yêu cầu khác, không cung cấp chứng cứ gì thêm.

* Đối với bị đơn ông Trần Phong T: Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, triệu tập hợp lệ để yêu cầu ông Trần Phong T cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 20/12/2024 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng yêu cầu bị đơn tham gia phiên tòa vào các ngày 15/01/2025 và ngày 07/02/2025 nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án. Quá trình xác minh, bị đơn ông T có đăng ký tạm trú, sinh sống tại số B, đường số A, khu dân cư A, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

* Tại Bản tự khai ngày 20/11/2024 cháu Trần Đăng K khai như sau:

Hiện nay ba mẹ cháu K đang làm thủ tục ly hôn tại Toà án. Trong trường hợp ba mẹ cháu K không sống cùng nhau cháu K muốn được sống cùng mẹ Nguyễn Thị Yến O. Ngoài ra, cháu K không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà O và ông T do Tòa án tiến hành ngày 21/11/2024, chính quyền địa phương cung cấp thông tin như sau:

Quá trình bà Nguyễn Thị Yến O và ông Trần Phong T sinh sống tại địa phương chính quyền không nhận được đơn thư hay trình báo gì về việc bà O và ông T có xảy ra mâu thuẫn trong gia đình. Nên chính quyền địa phương không biết được mâu thuẫn giữa vợ chồng bà O và ông T là gì cũng như công việc, thu nhập của họ nên không cung cấp thông tin được cho Tòa án.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương có ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn không chấp hành pháp luật tố tụng. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung về thủ tục tố tụng. Quan hệ pháp luật là: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa nhận thấy mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa bà O và ông T là trầm trọng, không hàn gắn đoàn tụ được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến O.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến O khởi kiện tranh chấp ly hôn, nuôi con đối với bị đơn ông Trần Phong T, sinh năm 1987 có nơi cư trú tại số B, đường số A, khu dân cư A, khu phố C, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương nên căn cứ theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương; quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

[1.2] Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Yến O vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông Trần Phong T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào các ngày 15/01/2025 và ngày 07/02/2025 nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị Yến O và ông Trần Phong T chung sống với nhau từ năm 2015, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận kết hôn số 132/2015, quyển số 01/2015 ngày 31/12/2015. Như vậy, hôn nhân giữa bà O và ông T là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận.

Bà O trình bày sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc một được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên tranh cãi. Cuộc sống hôn nhân ngày càng ngột ngạt, không hạnh phúc, vợ chồng không còn tình cảm mục đích hôn nhân không đạt được. Nay, bà O xác định tình cảm giữa bà O và ông T không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Trần Phong T.

Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, đã tiến hành triệu tập nguyên đơn, bị đơn đến làm việc, hòa giải nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng nguyên đơn kiên quyết xin ly hôn và có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn không có mặt theo triệu tập của Tòa án.

Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích, vợ chồng phải quan tâm, quý trọng, thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Từ việc nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn không tham gia hòa giải đoàn tụ để hàn gắn quan hệ hôn nhân đã thể hiện bà O và ông T không có thiện chí hòa giải đoàn tụ với nhau; hai bên cũng không đưa ra được giải pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng để xây dựng gia đình hạnh phúc. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở để xác định tình trạng hôn nhân của bà O và ông T đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà O yêu cầu ly hôn với ông T là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống bà O và ông T có 01 con chung tên Trần Đăng K, sinh ngày 14/11/2016. Tại đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà O yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trần Đăng K, sinh ngày 14/11/2016. Bà O yêu cầu ông Trần Phong T cấp dưỡng nuôi con chung cháu Trần Đăng K 2.000.000 (hai triệu đồng)/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét về mọi mặt của con chưa thành niên. Trong suốt quá trình tố tụng mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản có nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn về vấn đề này cho bị đơn nhưng bị đơn không có ý kiến gì. Tòa án cũng đã có Thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ số 524/TB-TA ngày 02/12/2024 yêu cầu bà O và ông T cung cấp tài liệu, chứng cứ về tình trạng hôn nhân của vợ chồng, nguyên nhân mâu thuẫn, về con chung, nghề nghiệp, nơi ở, nơi làm việc, thu nhập của mỗi người. Tuy nhiên, nguyên đơn và bị đơn đều không cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Tại Bản tự khai ngày 20/11/2024 cháu Trần Đăng K có mong muốn được sống cùng mẹ Nguyễn Thị Yến O. Vì vậy yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với nguyện vọng của cháu Trần Đăng K. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy việc giao con chung cho bà O trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng là đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án bà O yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng (hai triệu đồng)/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Trong suốt quá trình tố tụng bị đơn cũng không có ý kiến gì về vấn đề này.

Khoản 2 Điều 82, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Do đó, việc bà O yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.

Điều 116, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014định: “Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.”

Xét thấy, mức cấp dưỡng mà nguyên đơn bà O yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con so với các chi phí về ăn, ở, mặc, học, khám chữa bệnh và các chi phí thông thường cần thiết khác tại địa phương ở độ tuổi của cháu K là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà O đối với ông T về mức cấp dưỡng.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật.

[4] Về án phí: Nguyên đơn bà O phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, bị đơn ông T phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 40, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 55, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 116 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a Khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Yến O đối với ông Trần Phong T về việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Yến O được ly hôn với ông Trần Phong T (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số số 132/2015, quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh Sóc Trăng cấp ngày 31/12/2015).

1.2. Về con chung: Ông Trần Phong T giao con chung tên Trần Đăng K, sinh ngày 14/11/2016 cho bà Nguyễn Thị Yến O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Buộc ông Trần Phong T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 (hai triệu) đồng/tháng, thời hạn cấp dưỡng bắt đầu từ khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bà Nguyễn Thị Yến O và ông Trần Phong T đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.

1.3. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Yến O phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm mà bà O đã nộp theo biên lai thu số 0001804 ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Ông Trần Phong T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.

3. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Dĩ An;
  • - CCTHADS thành phố Dĩ An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Hải Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 07/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 35/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Yến O đối với ông Trần Phong T về việc: Tranh chấp ly hôn, nuôi con.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger