trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
  • search Luật đất đai mới nhất năm 2026
  • search Thủ tục đăng ký tạm trú tạm vắng online
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẠ LONG

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2025/HS-ST

Ngày 23 - 01 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Thành Lâm.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Phạm Thị Hiền và ông Nguyễn Đăng Cường.

Thư ký phiên tòa: bà Hoàng Vân Anh, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: ông Trần Mạnh Tiến- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 333/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 351/2024/QĐXXST–HS ngày 16 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 03/2025/HSST-QĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Quang H, sinh ngày 14 tháng 6 năm 1980 tại thành phố Hải Phòng; nơi đăng ký thường trú: số H Chợ C, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: tổ D, khu I, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị C; có vợ là Trần Thanh V; có 05 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; đầu thú, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 11/7/2024 đến ngày 20/7/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh; hiện tại ngoại nơi cư trú; có mặt.

- Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Hải Â, sinh năm 1980; nơi thường trú: tổ A, khu I, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Văn L; sinh năm 1986; nơi thường trú: tổ A, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  3. Bà Đỗ Thị T; sinh năm 1973; nơi thường trú: tổ B, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  4. Bà Đặng Thị H2; sinh năm: 1962; nơi cư trú: tổ B, khu I, phường H, thành phố H; vắng mặt.
  5. Ông Lê Huy H3; sinh năm: 2000; nơi cư trú: tổ B, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  6. Bà Nguyễn Thị Vân H4; sinh năm: 1972; nơi cư trú: tổ B, khu H, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  7. Bà Đặng Thùy D; sinh năm: 1983; nơi cư trú: tổ D, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  8. Bà Bùi Thị T1; sinh năm: 1977; nơi cư trú: tổ B, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
  9. Ông Ngô Doãn H5; sinh năm: 1984; nơi cư trú: tổ D, khu F, phường H, TP H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  10. Bà Phùng Thị T2; sinh năm: 1985; nơi cư trú: tổ B, khu C, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  11. Ông Nguyễn Minh N; sinh năm: 1959; nơi cư trú: tổ D, khu D, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  12. Anh Đỗ Văn Đ; sinh năm: 1986; nơi cư trú: tổ A, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  13. Ông Trần Thanh L1; sinh năm: 1961; nơi cư trú: tổ G, khu E phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  14. Bà Vũ Thị C1; sinh năm: 1972; nơi cư trú: tổ A, khu A phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  15. Bà Nguyễn Thị Huyền T3; sinh năm: 1990; nơi cư trú: tổ D, khu I phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  16. Ông Trần Hữu Q; sinh năm: 1976; nơi cư trú: tổ F, khu B, phường H, TP H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  17. Bà Đinh Thị T4; sinh năm: 1972; nơi cư trú: tổ A, khu I, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; văng mặt.
  18. Ông Trần Mạnh C2; sinh năm: 1990; nơi cư trú: tổ B, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  19. Ông Bùi Văn P; sinh năm: 1971; nơi ở hiện nay: tổ B, khu C phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác (những người làm chứng): anh Lê Anh T5 và anh Nguyễn Đức T6, đều vắng mặt; chị Trần Thanh V, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ năm 2022 đến nay, Nguyễn Quang H mở cửa hàng cầm đồ “Song Ngọc”, địa chỉ: số C đường N, tổ A, khu H, phường H, thành phố H. Cũng trong thời gian này, H đã cho nhiều người vay tiền với mức lãi suất cao từ 3.000 đồng đến 5.000 đồng/triệu/ngày. Khách hàng vay có thể cầm cố tài sản, giấy tờ cá nhân hoặc tín chấp (không có tài sản), H chuyển tiền và nhận tiền của khách vay bằng tiền mặt hoặc thông qua tài khoản ngân hàng số 0936793434 tại ngân hàng Q1 và tài khoản số [...] tại ngân hàng A mang tên H. Để quản lý, theo dõi hoạt động cho vay lãi hàng ngày, H lập một tài khoản quản lý trên trang web “lcash.pro” (hiện nay đổi tên là “lgold.biz”) tên đăng nhập “songngoc”. Toàn bộ các thông tin liên quan đến khách vay, H đều nhập vào hệ thống trong tài khoản này để quản lý gồm tên khách vay, số tiền vay, mức lãi suất vay, ngày vay, số tiền lãi đã đóng, số hợp đồng, kỳ hạn đóng lãi. Từ khoảng tháng 7/2022 đến tháng 03/2023, H thuê anh Lê Anh T5, giúp việc cho mình với tiền công 5.000.000 đồng/tháng. Công việc của anh T5 là gọi điện thoại đôn đốc nhắc khách vay đến hạn trả lãi khi được thông báo đến kỳ trả tiền. Khi có khách đến vay thì T5 báo lại để H làm việc với khách còn cụ thể mức vay, lãi suất vay thì T5 không được H cho biết. Đến tháng 03/2023, T5 nghỉ việc, H thuê anh Nguyễn Đức T6 làm việc thay T5, công việc của T6 tương tự T5.

Ngày 10/07/2024, ba khách vay gồm: Đỗ Thị T, Phạm Hải  và Nguyễn Văn L đến cơ quan Công an trình báo về hành vi cho vay lãi nặng của H.

Quá trình kiểm tra tài khoản quản lý cho vay “songngoc” của H tại trang 1gold.biz, Cơ quan điều tra xác định trong tài khoản có tổng số: 1.261 khoản vay với 321 khách vay. Trong đó có 25 khoản vay còn thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính và có lãi suất từ trên 100%/năm tương ứng với 19 khách vay (xác định được nhân thân lai lịch), cụ thể:

  1. Ông: Phạm Hải  trong tài khoản ghi tên là “hải âu”: Ngày 11/6/2023, vay 5.000.000đ, lãi suất là 4.000đ/1 triệu/ngày (tương đương là 146%/năm, gấp 7,3 lần lãi suất theo quy định), đến ngày 04/7/2024, sau 390 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 7.800.000đ, trong đó tiền thu lời bất chính là 6.731.507 đồng.
  2. Ông: Nguyễn Văn L trong tài khoản ghi tên là “luân sơn”: Ngày 25/3/2023, vay 10.000.000 đồng, lãi suất là 4.000đ/1 triệu/ngày (tương đương 146%/năm, gấp 7,3 lần lãi suất theo quy định), đến ngày 26/6/2024, sau 460 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 18.400.000đ, trong đó 15.879.452 đồng tiền thu lời bất chính.
  3. Bà: Đỗ Thị T trong tài khoản ghi tên “thuỷ vệ sinh môi trường”. Ngày 29/5/2022, vay số tiền 6.475.000 đồng, lãi suất là 5.000đ/1triệu/ngày (tương đương là 182,5%/năm gấp 9,1 lần lãi suất theo quy định). Đến ngày 17/6/2024, sau 751 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 26.250.000đ, trong đó 23.585.493 đồng tiền thu lời bất chính.
  4. Ông: Đặng Thị H2 (sinh năm: 1962, trú tại: tổ B, khu I, phường H, thành phố H), trong tải khoản ghi tên “cô hải trường Q2”: Ngày 12/10/2022, vay 5.000.000 đồng, lãi suất là 4.000đ/1 triệu/ngày (tương đương 146%/năm, gấp 7,3 lần lãi suất theo quy định) đến ngày 15/5/2024, sau 582 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 11.640.000đ, trong đó 10.045.479 đồng tiền thu lời bất chính.
  5. Ông: Lê Huy H3 (sinh năm: 2000, trú tại: tổ B, khu F, phường H, thành phố H), trong tài khoản ghi tên “hoàng bống”: Ngày 16/03/2023, vay 15.000.000 đồng, lãi suất là 3.000đ/1triệu/ngày (tương đương là 109,5%/năm gấp 5,5 lần lãi suất theo quy định). Đến ngày 05/10/2023, sau 204 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 9.180.000đ, trong đó 7.503.288 đồng tiền thu lời bất chính.
  6. Bà: Nguyễn Thị Vân H4 (sinh năm: 1972, trú tại: tổ B, khu H, phường H, thành phố H), trong tài khoản ghi tên “vân hương (cô H2)”: Ngày 25/08/2022, chị H4 vay số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất là 4.000đ/1 triệu/ngày (tương đương là 146%/năm gấp 7,3 lần lãi suất theo quy định). Đến ngày 05/05/2024, sau 620 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 12.400.000đ, trong đó 10.701.370 đồng tiền thu lời bất chính.
  7. Bà: Đặng Thùy D (sinh năm: 1983, trú tại: tổ D, khu F, phường H, thành phố H), trong tài khoản ghi tên “Dương tuyển than”: Ngày 18/01/2023, chị D vay số tiền 3.500.000 đồng, lãi suất là 4.000đ/1 triệu/ngày (tương đương là 146%/năm gấp 7,3 lần lãi suất theo quy định). Đến ngày 11/04/2024, sau 450 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 6.300.000đ, trong đó 5.436.986 đồng tiền thu lời bất chính.
  8. Bà: Bùi Thị T1 (sinh năm: 1977, trú tại: tổ F, khu F, phường H, thành phố H), trong tài khoản ghi tên “Thu núi hạm”: Ngày 06/03/2023, bà T1 vay số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất là 4.000đ/1 triệu/ngày (tương đương là 146%/năm gấp 7,3 lần lãi suất theo quy định). Đến ngày 18/05/2024, sau 440 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 8.800.000đ, trong đó 7.594.521 đồng tiền thu lời bất chính.
  9. Ông: Ngô Doãn H5 (sinh năm: 1984, trú tại: tổ D, khu F, phường H, TP H, tỉnh Quảng Ninh), trong tài khoản ghi tên “H6”: Ngày 09/02/2023, anh H5 vay số tiền 3.000.000 đồng, lãi suất là 4.000đ/1triệu/ngày (tương đương là 146%/năm gấp 7,3 lần lãi suất theo quy định). Đến ngày 02/06/2024, sau 480 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 5.760.000đ, trong đó 4.970.959 đồng tiền thu lời bất chính.
  10. Bà: Phùng Thị T2 (sinh năm: 1985, trú tại: tổ B, khu C, phường H, thành phố H), trong tài khoản ghi tên “T2 núi béo”:
    • Lần 1: Ngày 09/02/2023, vay 7.000.000 đồng, lãi suất là 4.000đ/1 triệu/ngày (tương đương 146%/năm, gấp 7,3 lần lãi suất theo quy định), đến ngày 05/11/2023, sau 270 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 9.450.000đ, trong đó 8.414.384 đồng tiền thu lời bất chính.
    • Lần 2: Ngày 20/04/2023, vay 5.000.000 đồng, lãi suất là 4.000đ/1 triệu/ngày (tương đương 146%/năm, gấp 7,3 lần lãi suất theo quy định), đến ngày 05/11/2023, sau 200 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 5.000.000đ, trong đó 4.452.055 đồng tiền thu lời bất chính.
  11. Ông: Nguyễn Minh N (sinh năm: 1959, trú tại: tổ D, khu D, phường C, thành phố H), trong tài khoản ghi tên “chú nghiễm cao thắng”: Ngày 03/01/2023, vay 3.000.000 đồng, lãi suất là 4.000đ/1 triệu/ngày (tương đương 146%/năm, gấp 7,3 lần lãi suất theo quy định), đến ngày 06/04/2024, sau 460 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 6.900.000đ. Trong đó 6.143.836 đồng tiền thu lời bất chính.
  12. Anh: Đỗ Văn Đ (sinh năm: 1986, trú tại: tổ A, khu F, phường H, thành phố H), trong tài khoản ghi tên “em được (cẩu)”: Ngày 17/08/2022, anh Đ vay số tiền 3.000.000 đồng, lãi suất là 3.000đ/1triệu/ngày (tương đương là 109,5%/năm gấp 5,5 lần lãi suất theo quy định). Đến ngày 30/01/2024, sau 624 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 5.616.000đ, trong đó 4.590.247 đồng tiền thu lời bất chính.
  13. Ông: Trần Thanh L1 (sinh năm: 1961, trú tại: tổ G, khu E phường B, thành phố H) trong tài khoản ghi là “chú L1”:
    • Lần 1: Ngày 26/08/2022, vay 4.000.000 đồng, lãi suất là 3.000đ/1 triệu/ngày (tương đương là 109,5%/năm, gấp 5,5 lần lãi suất theo quy định), đến ngày 13/10/2023, sau 414 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 4.968.000 đồng, trong đó 4.060.603 là tiền thu lời bất chính.
    • Lần 2: Ngày 01/10/2022, vay 500.000 đồng, lãi suất là 3.000đ/1 triệu/ngày (tương đương 109,5%/năm, gấp 5,5 lần lãi suất theo quy định), đến ngày 13/10/2023, sau 378 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 3.591.000đ, trong đó 3.487.438 đồng là tiền thu lời bất chính.
  14. Bà: Vũ Thị C1 (sinh năm: 1972, trú tại: tổ A, khu A phường H, thành phố H):
    • Lần 1: Ngày 09/04/2023, vay 5.000.000 đồng, lãi suất là 4.000đ/1 triệu/ngày (tương đương là 146%/năm, gấp 7,3 lần lãi suất theo quy định), đến ngày 21/06/2024, sau 440 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 8.800.000 đồng, trong đó 7.594.521 đồng thu lời bất chính.
    • Lần 2: Ngày 12/04/2023, vay 10.000.000 đồng, lãi suất là 4.000đ/1 triệu/ngày (tương đương là 146%/năm, gấp 7,3 lần lãi suất theo quy định), đến ngày 14/07/2024, sau 460 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 18.400.000 đồng, trong đó 15.879.452 đồng thu lời bất chính.
  15. Bà: Nguyễn Thị Huyền T3 (sinh năm: 1990, trú tại: tổ D, khu I phường H, thành phố H) trong tài khoản ghi “trang thuỷ sản”: Ngày 26/4/2023, vay 13.200.000 đồng, lãi suất là 4.000đ/1 triệu/ngày (tương đương là 146%/năm, gấp 7,3 lần lãi suất theo quy định), đến ngày 20/3/2024, sau 330 ngày đã trả tổng số tiền lãi 19.800.000 đồng, trong đó 17.413.151 đồng thu lời bất chính.
  16. Ông: Trần Hữu Q (sinh năm: 1976, trú tại: tổ F, khu B, phường H, TP H, tỉnh Quảng Ninh) trong tài khoản ghi “Quỳnh wave":
    • Lần 1: Ngày 15/04/2023, vay 5.000.000 đồng, lãi suất là 3.000đ/1 triệu/ngày (tương đương là 109,5%/năm, gấp 5,5 lần lãi suất theo quy định), đến ngày 13/08/2023, sau 121 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 1.815.000 đồng, trong đó 1.483.493 đồng thu lời bất chính.
    • Lần 2: Ngày 03/09/2023, vay 5.000.000 đồng, lãi suất là 3.000đ/1 triệu/ngày (tương đương là 109,5%/năm gấp 5,5 lần lãi suất theo quy định), đến ngày 05/02/2024, sau 156 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 2.340.000 đồng, trong đó 1.912.603 đồng thu lời bất chính.
    • Lần 3: Ngày 08/02/2024, vay 5.000.000 đồng, lãi suất là 3.000đ/1 triệu/ngày (tương đương là 109,5%/năm gấp 5,5 lần lãi suất theo quy định), đến ngày 18/04/2024, sau 71 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 1.065.000 đồng, trong đó 870.479 đồng thu lời bất chính.
  17. Bà: Đinh Thị T4 (sinh năm: 1972, trú tại: tổ A, khu I, phường H, thành phố H) trong tài khoản ghi “Cô T4":
    • Lần 1: Ngày 17/09/2022, vay 2.500.000 đồng, lãi suất là 3.000đ/1 triệu/ ngày (tương đương là 109,5%/năm gấp 5,5 lần lãi suất theo quy định), đến ngày 24/12/2023, sau 464 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 3.480.000 đồng, trong đó 2.844.384 đồng thu lời bất chính.
    • Lần 2: Ngày 27/09/2022, vay 10.000.000 đồng, lãi suất 4.000đ/1 triệu/ ngày (tương đương là 146%/năm, gấp 7,3 lần lãi suất theo quy định), đến ngày 22/09/2023, sau 361 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 14.400.000 đồng, trong đó 12.421.918 đồng thu lời bất chính.
  18. Ông: Trần Mạnh C2 (sinh năm: 1990, trú tại: tổ B, khu B, phường H, thành phố H) trong tài khoản ghi “Cường md3”: Ngày 26/09/2023, vay 23.000.000 đồng, lãi suất là 3.000đ/1 triệu/ngày (tương đương là 109,5%/năm, gấp 5,5 lần lãi suất theo quy định), đến ngày 15/11/2023, sau 51 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 3.519.000 đồng, trong đó 2.876.260 đồng thu lời bất chính.
  19. Ông: Bùi Văn P (sinh năm: 1971, chỗ ở hiện nay: tổ B, khu C phường H, thành phố H) trong tài khoản ghi “phê, thuỷ”: Ngày 19/09/2023, vay 5.000.000 đồng, lãi suất 3.000đ/1 triệu/ ngày (tương đương là 109,5%/năm, gấp 5,5 lần lãi suất theo quy định,) đến ngày 03/10/2023, sau 15 ngày, đã trả tổng tiền lãi là 225.000 đồng, trong đó 183.904 đồng thu lời bất chính.

Đến nay, xác định được tổng số tiền gốc H sử dụng để cho 19 người trên vay là 164.175.000 đồng, số tiền gốc H thu lại được là 164.175.000 đồng, số tiền lãi H đã thu là 215.899.000 đồng trong đó số tiền thu lời bất chính là 187.082.164 đồng.

Ngày 11/7/2024, Nguyễn Quang H đầu thú tại Công an thành phố H. Tại Cơ quan điều tra, H khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên. Ngoài ra còn khai: Đối với các khách vay còn lại chỉ có thông tin tên/biệt danh (không rõ họ tên cụ thể), còn số điện thoại lưu trong tài khoản “songngoc” là sim “rác”.

Khám xét chỗ ở của H thu giữ 02 (hai) xe mô tô biển kiểm soát 26B2-466.37 và 14U1-247.54; 05 (năm) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, 01 (một) giấy phép lái xe mô tô, 05 (năm) Căn cước công dân, chứng minh nhân dân là của các khách vay cầm cố cho H. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng B2 số [...] mang tên Hoàng Minh T7, sinh năm 1992, trú tại: tổ D, khu D, phường H, thành phố H. Qua xác minh, hiện cả gia đình T7 đã không còn cư trú tại địa chỉ trên, không rõ đi đâu, làm gì nên Cơ quan điều tra tách ra xử lý sau.

Đối với 01 (một) túi xách màu đen, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 promax, màu tím và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10, màu trắng, gắn sim số 0378517963 của H, Cơ quan điều tra đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, chờ xử lý theo quy định.

Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra tài khoản “songngoc” trên trang web “1gold.biz” do H lập, trích xuất các dữ liệu thành các file excel, in ra cho H ký xác nhận. Công an đã tiến hành đổi mật khẩu đăng nhập của tài khoản này và tiến hành niêm phong đĩa DVD bên trong có lưu những thư mục khách hàng, đã xác định được 19 khách vay như trên.

Giai đoạn điều tra, 19 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (khách vay) nêu trên khai: xác nhận đã vay tiền của bị cáo với lãi suất cao như nội dung Cáo trạng đã nêu, trong đó có một số khách vay nhận dạng được H. Tại phiên tòa, bà Bùi Thị T1 cũng thừa nhận đã vay tiền của bị cáo với lãi suất nêu trên.

Cơ quan điều tra đã tiến hành cho một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Trần Thanh L1, Ngô Doãn H5) nhận dạng đối với Nguyễn Quang H. Kết quả: đều nhận dạng được H chính là người cho vay tiền với lãi suất cao.

Cơ quan điều tra đã kiểm tra điện thoại của H và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan xác định có tin nhắn liên quan đến việc đôn đốc trả tiền lãi.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử về hành vi và tội danh như Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, không oan, sai. Do bị cáo thiếu hiểu biết pháp luật nên đã phạm tội. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có 05 con nhỏ và 01 mẹ già, là lao động chính trong gia đình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

19 người vay tiền nêu trên và H đều xác nhận những người vay tiền đã trả nợ gốc hết cho H và H đã trả lại số tiền thu lợi bất chính vượt quá 20%/năm cho những người vay tiền và họ xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, những người làm chứng: anh Lê Anh T5, anh Nguyễn Đức T6 và chị Trần Thanh V khai báo toàn bộ nội dung sự việc mà mình biết được về hành vi phạm tội của bị cáo cơ bản như nội dung Cáo trạng đã nêu.

Tại bản Cáo trạng số: 5750/CT-VKS-HL ngày 26 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang H về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 2 Điều 201; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các khoản 1,2 và 5 Điều 65 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H từ 09 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

- Áp dụng các điểm a, b khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu của bị cáo sung ngân sách nhà nước: số tiền 192.991.836 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 10 màu trắng; tịch thu tiêu hủy 01 (một) túi xách màu đen và 01 (một) sim điện thoại số 0378.517.xxx; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 promax màu tím.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Về việc vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng tại phiên tòa: giai đoạn điều tra họ đã có lời khai về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án và việc giải quyết hậu quả trong vụ án liên quan đến họ cũng đã thực hiện xong, không có ai có ý kiến gì, trong đó có nhiều người đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ vẫn đảm bảo thực hiện đúng quy định khoản 1 Điều 292 và khoản 1 Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung truy tố:

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (những khách vay tiền của bị cáo) về nội dung sự việc, thời gian, địa điểm, phương pháp thực hiện hành vi phạm tội, vật chứng bị thu giữ, Bản ảnh, các Biên bản nhận dạng của khách vay đối với bị cáo, tài liệu về tin nhắn được trích xuất từ điện thoại của bị cáo và các khách vay, lịch sử giao dịch chuyển - nhận tiền được sao kê từ các ngân hàng qua tài khoản của bị cáo và khách vay, cùng những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2022 đến ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Nguyễn Quang H đã cho 19 (mười chín) cá nhân gồm các ông, bà, anh, chị: Phạm Hải Â, Nguyễn Văn L, Đỗ Thị T, Đặng Thị H2, Lê Huy H3, Nguyễn Thị Vân H4, Đặng Thùy D, Bùi Thị T1, Ngô Doãn H5, Phùng Thị T2, Nguyễn Minh N, Đỗ Văn Đ, Trần Thành L2, Vũ Thị C1, Nguyễn Thị Huyền T3, Trần Hữu Q, Đinh Thị T4, Trần Mạnh C2 và Bùi Văn P vay tổng số tiền 164.175.000 đồng, với lãi suất từ 3.000 đồng đến 5.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, tương đương mức lãi suất từ 109,5%/01 năm đến 182,5%/01 năm, gấp 5,5 lần đến 9,1 lần lãi suất quy định của Bộ luật dân sự, thu được tổng số tiền lãi là 215.899.000 đồng, trong đó tiền lãi phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự (đến 20%/năm) là 28.816.836 đồng, tiền lãi không phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự (vượt quá 20%/năm) là 187.082.164 đồng.

[2.2] Điều 201 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội mà thu lợi bất chính 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự quy định:

“1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác...

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”...

[2.3] Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết việc cho người khác vay tiền với lãi suất cao là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long truy tố bị cáo về hành vi theo tội danh nêu trên là có cơ sở pháp luật.

[2.4] Hành vi phạm tội của bị cáo xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, hoạt động kinh doanh tiền tệ của Nhà nước, gây gây mất trật tự, trị an xã hội, bức xúc trong đời sống ở địa phương, có thể là một trong những nguyên nhân phát sinh ra tội phạm và vi phạm pháp luật khác, vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh.

[2.5] Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã đầu thú, thành khẩn khai báo, đã khắc phục hậu quả (đã trả lại số tiền lãi đã thu được vượt quá 20%/năm cho những người vay) và được họ xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, i và s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

[3] Về hình phạt:

[3.1] Đối với hình phạt chính: căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: bị cáo có nhân thân tốt; phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng; có khả năng tự cải tạo tại địa phương mà không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số: 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo, nên không cần phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù, mà giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý giáo dục với một thời gian thử thách phù hợp, cho bị cáo có cơ hội làm việc, cải tạo, giáo dục, sữa chữa lỗi lầm, điều đó cũng đáp ứng được mục đích của hình phạt. Trường hợp bị cáo vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong thời gian thử thách, thì phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.

[3.2] Đối với hình phạt bổ sung: do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nuôi nhiều con nhỏ, là lao động chính trong gia đình, không có việc làm và thu nhập ổn định, số tiền bị cáo sẽ bị tịch thu rất lớn, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về việc xử lý số tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm: căn cứ vào các điểm a và b khoản 1 Điều 46, các điểm a và b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn: tịch thu sung quỹ nhà nước đối với: khoản tiền người phạm tội dùng để cho vay và tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà người phạm tội đã thu của người vay. Do đó, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc tịch thu số tiền gốc và lãi nêu trên là có cơ sở chấp nhận.

[5] Về xử lý vật chứng bị thu giữ: những vật chứng là công cụ phạm tội, không còn giá trị, cần tịch thu và tiêu hủy; những vật chứng là công cụ phạm tội còn giá trị cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa nêu trên là có cơ sở chấp nhận.

[6] Về những vấn đề khác có liên quan trong vụ án: Đối với Nguyễn Đức T6 và Lê Anh T5 chỉ giúp H gọi điện thu lãi, không biết rõ tiền gốc cho vay và lãi suất. Riêng T6 có giới thiệu cho H và thu tiền lãi của 02 khách vay là Lê Huy H3 và Nguyễn Thị Huyền T3 với tổng số tiền thu lợi bất chính là 16.787.890 đồng. Do đó, hành vi của T6 và T5 không đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Đối với Trần Thanh V (vợ bị cáo) không biết và không tham gia vào việc cho vay mà chỉ được tên đăng ký hộ kinh doanh ban đầu cho H nên không đủ cơ sở xử lý. Đối với các khoản cho vay của H kết thúc trước ngày 10/07/2023 và số tiền thu lợi bất chính của mỗi khoản vay dưới 30.000.000 đồng, tính đến thời điểm phát hiện vụ án ngày 10/7/2024 đã hết thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính nên không đủ cơ sở xử lý. Đối với các khoản cho vay của H còn thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính (kết thúc sau ngày 10/7/2023), nhưng mức lãi suất dưới 100%/năm, Cơ quan điều tra đã đề nghị Ủy ban nhân dân thành phố H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H và T6. Đối với các khách vay còn lại trong tài khoản quản lý vay lãi “songngoc” của H, không xác định được thông tin, lai lịch cụ thể, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ sau. Hội đồng xét xử không giải quyết.

[7] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 2 Điều 201; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2 và 5 Điều 65; các điểm a và b khoản 1 Điều 46, các điểm a và b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 1, các điểm a, b và c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, các khoản 1 và 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, các khoản 1 và 4 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021); các điểm a và b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số: 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; điểm a khoản 1 Điều 3, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

  1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 23 tháng 01 năm 2025), về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

    Giao bị cáo Nguyễn Quang H cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Tịch thu (truy thu) của bị cáo Nguyễn Quang H nộp ngân sách Nhà nước số tiền 192.991.836đ (một trăm chín mươi hai triệu, chín trăm chín mươi mốt nghìn, tám trăm ba mươi sáu đồng), hiện chưa thu được; tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) túi xách màu đen và 01 (một) sim điện thoại mang số 0378.517.xxx; tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redmi (kiểu dáng Redmi 10) màu trắng; trả lại cho bị cáo Nguyễn Quang H 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (kiểu dáng Iphone14 promax) màu tím.

    Tình trạng những vật chứng bằng hiện vật nêu trên theo Biên bản giao vật chứng, tài sản số: 92/BB-THA ngày 12 tháng 12 năm 2024 giữa Công an thành phố H và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

  3. Buộc bị cáo Nguyễn Quang H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; những người CQLNVLQ;
  • - VKSND TP. Hạ Long;
  • - VKSND T. Quảng Ninh;
  • - CQ điều tra, CQ Hồ sơ nghiệp vụ và
  • CQ THAHS Công an TP. Hạ Long;
  • - Chi cục THADS TP. Hạ Long;
  • - TAND T. Quảng Ninh;
  • - Sở tư pháp T. Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ; Lưu TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Lâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 35/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger