TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST
Ngày 11 tháng 12 năm 2024.
V/v “Tranh chấp hôn nhân gia đình”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán: Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Việt Giang.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Hoàng Tuấn.
- 2. Bà Nguyễn Thị Hoa.
- - Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Đỗ Ngọc Minh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Trần Lại Khánh Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 173/2024/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc "Tranh chấp về hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/QĐ-TA ngày ngày 28 tháng 11 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Chị Vi Thị H, sinh năm 1990.
Nơi cư trú: Bản L, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An
Bị đơn: Anh Lê Sơn H1, sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Khu F, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
(Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh H1 vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Vi Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Lê Sơn H1 đăng ký kết hôn ngày 29/02/2016 tại UBND xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn vợ chồng sống cùng với gia đình nhà chồng ở tại khu F, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được một thời gian đến khoảng cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, không hợp nhau. Anh H1 thường xuyên chửi mắng chị. Từ tháng 12/2018, chị về nhà bố mẹ đẻ tại Bản L, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An để sinh sống, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh H1.
- Về con chung: Chị Vi Thị H xác nhận vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Quốc C, sinh ngày 22/11/2015. Hiện nay cháu C đang ở cùng chị tại Bản L, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Khi ly hôn chị xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Lê Quốc C, sinh ngày 22/11/2015. Chị tự nguyện không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.
- Về tài sản chung, về nợ chung, công sức đóng góp: Chị Vi Thị H không đề nghị Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Sơn H1 không đến Tòa án làm việc nên không có quan điểm trình bày:
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà Nguyễn Thị S (mẹ đẻ anh H1) để anh H1 biết và thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình nhưng anh H1 không đến làm việc, không có bản tự khai và quan điểm ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị H.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh.
Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm gì.
Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014Khoản 4 Điều 147, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
X: Chấp yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị H. Cho chị Vi Thị H được ly hôn với anh Lê Sơn H1.
Về con chung: Giao cho chị Vi Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Lê Quốc C, sinh ngày 22/11/2015 cho đến khi cháu C thành niên, có khả năng lao động tự túc được. Anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H vì chị H tự nguyện không yêu cầu.
Anh H1 có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị H không đề nghị giải quyết nên không xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị Vi Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí
dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Vi Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về việc xin ly hôn với anh Lê Sơn H1, nơi cư trú: Khu F, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Do vậy, đây là tranh chấp về Hôn nhân gia đình theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Vi Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Lê Sơn H1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng anh H1 vắng mặt tại phiên tòa vì vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị H và anh H1 là phù hợp quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Vi Thị H và anh Lê Sơn H1 tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 29/02/2016 tại UBND xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ nên đây là hôn nhân hợp pháp. Nguyên đơn là chị H xác định trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, anh H1 thường hay chửi mắng chị. Anh H1 không đến Tòa án làm việc nên không có quan điểm trình bày gì. Qua xác minh tại khu dân cư và UBND xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ cung cấp: Chị H và anh H1 đăng ký kết hôn ngày 29/02/2016 tại UBND xã P. Về nguyên nhân mâu thuẫn của chị H và anh H1 thì chính quyền địa phương đều không nắm rõ cụ thể nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng anh chị. Từ khoảng năm 2018, chị H đã về nhà bố mẹ đẻ tại huyện Q, tỉnh Nghệ An để sinh sống, anh chị đã sống ly thân nhau đến nay. Hiện nay chị H khởi kiện xin ly hôn anh H1 thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tòa án đã gặp và làm việc với bà Nguyễn Thị S là mẹ đẻ của anh Lê Sơn H1, bà S cho biết anh H1 đang sinh sống cùng bà tại khu F, xã P huyện P, tỉnh Phú Thọ, anh H1 đi làm ăn, thỉnh thoảng mới về nhà. Bà vẫn thường liên lạc với anh bằng điện thoại hay qua zalo. Đối với các văn bản tố tụng của Tòa án giao cho anh H1, bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và cam kết giao đến tay anh H1. Về mâu thuẫn của vợ chồng anh H1 và chị H cụ thể như thế nào bà không nắm rõ nhưng bà xác định anh chị có mâu thuẫn và anh chị đang sống ly thân. Chị H xin ly hôn anh H1 bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị H và anh H1 có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân một thời gian, hai vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Như vậy tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh H1 đã
đến mức trầm trọng, không thể khắc phục, đời sống chung thực tế đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được do đó cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Chị H xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Lê Quốc C, sinh ngày 22/11/2015. Hiện nay, cháu C đang ở cùng chị tại Bản L, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Khi ly hôn chị H xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu C cho đến khi con chung thành niên có khả năng lao động tự túc được. Chị tự nguyện không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Hiện chị H là lao động tự do, thu nhập bình quân khoảng 8.000.000đ/01 tháng. Chị H và cháu C hiện đang ở cùng với mẹ đẻ là bà Lô Thị D tại Bản L, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Anh H1 không đến Tòa án làm việc nên không có ý kiến gì. Xét thấy, hiện nay cháu C đang ở cùng chị H, đang học tập tại xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An, cháu C còn nhỏ nên cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ. Vì vậy để tránh sự xáo trộn cuộc sống và đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho con chưa thành niên phát triển toàn diện nên cần giao cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Lê Quốc C là phù hợp. Anh H1 không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H vì chị H tự nguyện không yêu cầu.
[3] Về tài sản chung; về công nợ; về công sức đóng góp: Chị H không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí: Chị Vi Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Xét thấy quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Ninh là phù hợp nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị H.
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Vi Thị H ly hôn với anh Lê Sơn H1.
Về con chung: Giao cho chị Vi Thị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục Lê Quốc C, sinh ngày 22/11/2015 cho đến khi cháu C thành
niên, có khả năng lao động tự túc được. Anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H vì chị H tự nguyện không yêu cầu.
Anh H1 có quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.
Về tài sản chung, về nợ chung, công sức đóng góp: Chị H không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2. Về án phí: Chị Vi Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001335 ngày 16/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Ninh. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đinh Việt Giang |
Bản án số 35/2024/HNGĐ-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 35/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ NINH, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Vi Thị Hà ly hôn anh Lê Sơn H1
