TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số 35/2024/HSST
Ngày 27/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hằng.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Văn Chung - Trưởng Phòng Giáo dục huyện Như Xuân.
Bà Lê Thị Bảy – Phó trưởng Phòng Lao động Thương xã hội huyện Như Xuân.
Thư ký phiên toà: Ông Lê Quang Tùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Hàn Văn Vinh – Kiểm sát viên.
Ngày 22 và 27 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 35/2024/TLST- HS ngày 09 tháng 09 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/HSST ngày 11/10/2024 và quyết định hoãn phiên toà số 39 ngày 25/10/2024 đối với các bị cáo:
- Hoàng Văn C. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 24/10/2007 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: khu Phố A, thị Trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: học sinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 11/12; Con ông Hoàng Văn P và bà Nguyễn Thị H. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị khởi tố, giao cho người đại diện giám sát từ ngày 11/03/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Hồ Duy L. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 29/03/2007 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: khu Phố B, thị Trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: học sinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 11/12; Con ông Hồ Công N và bà Lê Thị Thu H1. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị khởi tố, giao cho người đại diện giám sát từ ngày 11/03/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Lê Đình Đ. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 28/03/2007 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu Phố Y, thị Trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: học sinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 11/12; Con ông Lê Đình M và bà Lê Thị H2. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị khởi tố, giao cho người đại diện giám sát từ ngày 11/03/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Nguyễn Lê H13. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 11/09/2007 tại huyện K, tỉnh Gia Lai; Nơi cư trú: Tổ Dân phố C, thị Trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 07/12; Con ông Nguyễn Văn H3 và bà Lê Thị Vân A. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị khởi tố, giao cho người đại diện giám sát từ ngày 11/03/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Lê Hữu A1. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 19/09/2007 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu Phố C, thị Trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 10/12; Con ông Lê Hữu T và bà Bùi Thị L1. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị khởi tố, giao cho người đại diện giám sát từ ngày 11/03/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Lê Đình N1. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 05/12/2006 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu Phố T, thị Trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: học sinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Con ông Lê Đình T1 và bà Nguyễn Thị T2. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị khởi tố, giao cho người đại diện giám sát từ ngày 11/03/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Khương Mạnh Đ1. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 15/01/2007 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu Phố B, thị Trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 10/12; Con ông Khương Văn H4 và bà Vi Thị C1. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị khởi tố, giao cho người đại diện giám sát từ ngày 11/03/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Lê Đình C2. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 13/07/2006 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu Phố M, thị Trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: học sinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thổ; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 10/12; Con ông Lê Đình T3 và bà Vi Thị Tuyết. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị khởi tố, giao cho người đại diện giám sát từ ngày 11/03/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Nguyễn Văn Đ2. Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 13/02/2007 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Khu Phố D, thị Trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: học sinh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 11/12; Con ông Nguyễn Văn T4 và bà Nguyễn Thị H5. Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị khởi tố, giao cho người đại diện giám sát từ ngày 11/03/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Nguyễn Văn N2. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 30/06/2005 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động Tự do. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị L2. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ 11/03/2024 cho đến nay. Có mặt.
- Vi Anh T5. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 28/06/2002 tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: Khu Phố T, thị Trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động Tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không. Con ông Vi Văn X và bà Lê Thị K. Tiền án, tiền sự: Không. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/03/2024 cho đến nay. Có mặt.
*Người đại diện hợp pháp của các bị cáo:
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hoàng Văn C:
Anh Hoàng Văn P – Sinh năm: 1972.
Địa chỉ: Khu phố A, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Hồ Duy L:
Anh Hồ Công N – Sinh năm: 1982.
Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn Đ2:
Anh Nguyễn Văn T4 – Sinh năm: 1966.
Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Khương Mạnh Đ1:
Anh Khương Văn H4 – Sinh năm: 1970.
Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Đình Đ:
Anh Lê Đình M – Sinh năm: 1970.
Địa chỉ: Khu phố B, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Lê H13:
Anh Lê Văn Ư – Sinh năm: 1971.
Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt. Tại phiên toà có mặt cả người đại diện hợp pháp của bị cáo H13 là anh Nguyễn Văn H3 (Là bố đẻ bị cáo H13).
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Hữu A1:
Ông Lê Hữu L3 – Sinh năm: 1959.
Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Đình N1:
Anh Lê Đình T1 – Sinh năm: 1979.
Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Tại phiên toà anh T1 vắng mặt. Nhưng có mặt người đại diện hợp pháp là chị Nguyễn Thị T2 (Mẹ đẻ của bị cáo N1).
* Người bào chữa cho các bị cáo Lê Đình C2, Hoàng Văn C, Khương Mạnh Đ1, Lê Đình N1, Lê Đình Đ.
Ông Hoàng Đức H6 – Trợ giúp viên pháp lý
Nơi công tác: Chi nhánh T10 pháp lý số 4, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. Có mặt.
* Người bào chữa cho các bị cáo Hồ Duy L, Nguyễn Văn Đ2, Lê Hữu Al, Nguyễn Lê H13.
Bà Nguyễn Thị H7 – Trợ giúp viên pháp lý.
Nơi công tác: Chi nhánh T10, thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. Có mặt.
* Người làm chứng:
- Lê Đình Mạnh C3 – Sinh năm: 2008.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Lê Phúc Tuấn A2 – Sinh năm: 2006.
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Hoàng Công H8 – Sinh năm: 2007.
Địa chỉ: Thôn T, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Cao Văn Đ3 – Sinh năm: 2005.
Địa chỉ: Thôn X, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Lê Văn C4 – Sinh năm: 2007.
Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Đào Quang K1 – Sinh năm: 2008.
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Hà Văn T6 – Sinh năm: 2007.
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Lê Văn D – Sinh năm: 2006.
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Lê Văn Q – Sinh năm: 2008.
Địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Nguyễn Thị Hà L4 – Sinh năm: 2008.
Địa chỉ: Khu phố Y, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Lê Thị Ngọc N3 – Sinh năm: 2010.
Địa chỉ: Khu phố X, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Lê Doãn Hậu H9 – Sinh năm: 2008.
Địa chỉ: Thôn V, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Lê Hữu Minh Đ4 - Sinh năm: 2008.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Lê Văn D – Sinh năm: 2009.
Địa chỉ: Khu phố X, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Lê Huy H10 – Sinh năm: 2009.
Địa chỉ: Khu phố X, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Lê Minh H11 - Sinh năm: 2006.
Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Lê Hoàng B1 – Sinh năm: 2010.
Địa chỉ: Khu phố X, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Lê Thanh D1 - Sinh năm: 2010.
Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Bùi Chí Trường S – Sinh năm: 2007.
Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Lê Đình B2 – Sinh năm: 2009.
Địa chỉ: Khu phố T, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Lê Hữu V – Sinh năm: 2008.
Địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
- Lê Thanh T7 - Sinh năm: 1990.
Địa chỉ: Thôn Q, xã B, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa vắng mặt tất cả những người làm chứng là Lê Đình Mạnh C3, Lê Phúc Tuấn A2, Hoàng Công H8, Cao Văn Đ3, Lê Văn C4, Đào Quang K1, Hà Văn T6, Lê Văn D, Lê Văn Q, Nguyễn Thị Hà L4, Lê Thị Ngọc N3, Lê Doãn Hậu H9, Lê Hữu Minh Đ4, Lê Văn D, Lê Huy H10, Lê Minh H11, Lê Hoàng B1, Lê Thanh D1, Bùi Chí Trường S, Lê Đình B2, Lê Hữu V, Lê Thanh T7.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mâu thuẫn với Lê Huy H10, sinh ngày 20/11/2009 ở khu phố X, thị trấn Y trên mạng xã hội nên tối ngày 18/01/2024, Hoàng Văn C, sinh ngày 24/10/2007 ở khu phố A, thị trấn Y nhắn tin, hẹn đánh nhau với nhóm của Huy H10, sau đó nhắn tin thông báo lên nhóm chát Messenger “Tổ công tác 141" cho các thành viên trong nhóm biết, hẹn cả nhóm tập hợp tại nhà Khương Mạnh Đ1, sinh ngày 16/01/2007 ở cùng khu phố vào lúc 20 giờ để cùng đi đánh nhau với nhóm của Huy H10; đồng thời gọi điện thoại rủ thêm một số đối tượng khác cùng đến nhà Đ1 để cùng đi. Do biết việc tập hợp lực lượng để đánh nhau nên các đối tượng cùng tham gia nhóm chát Messenger “Tổ công tác 141” gồm Hồ Duy L, sinh ngày 29/03/2007, ở khu phố B, thị trấn Y; Lê Đình N1, sinh ngày 05/12/2006; Lê Minh H11, sinh ngày 30/9/2006; Lê Đình B2, sinh ngày 29/7/2009 cùng ở khu phố T, thị trấn Y và Lê Đình C2, sinh ngày 13/7/2006 ở khu phố M, thị trấn Y; Lê Hữu V, sinh ngày 16/3/2008; Lê Đình Đ, sinh ngày 28/3/2007 ở khu phố Y, thị trấn Y, Nguyễn Văn Đ2, sinh ngày 13/02/2007 ở khu phố D, thị trấn Y; Lê Thanh D1 sinh ngày 01/4/2010 ở khu phố C, thị trấn Y; Lê Hoàng B1, sinh ngày 10/5/2010, ở khu phố T, thị trấn Y và các đối tượng khác gồm: Nguyễn Lê H13, sinh ngày 11/9/2007, ở tổ dân phố C, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai (Lúc đó đang đi chơi ở xã B, huyện N), Lê Hữu A1, sinh ngày 19/9/2007 ở khu phố C, thị trấn Y (đang đi cùng Lê H13), Bùi Chí Trường S, sinh ngày 13/8/2007 ở khu phố D, thị trấn Y cùng đến nhà Đ1 để đi đánh nhau. Sau khi tập hợp được lực lượng, cả nhóm mang theo hung khí là 02 két vỏ chai bia và 02 đoạn tuýp sắt chuẩn bị từ trước, đi trên 03 xe mô tô, 02 xe máy điện đến chỗ hẹn đánh nhau với nhóm Lê Huy H10, trên đường đi còn có Vi Anh T5, sinh năm 2002, ở khu phố T, thị trấn Y và Nguyễn Văn N2, sinh năm 2005 ở thôn Đ, xã T cùng đi trên 01 xe mô tô đến họp nhóm. Quá trình đi, C hẹn được nhóm của H10 đến khu vực gần Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên huyện N thuộc khu phố D, thị trấn Y để đánh nhau nên cả nhóm chia nhau cầm các vỏ chai bia, rượu. Sau đó, cả nhóm chia nhau cầm các vỏ chai bia, riêng C2 để lại 02 đoạn tuýp sắt, cầm theo 01 đoạn tuýp ngắn hơn rồi đi tiếp theo đường tỉnh lộ 520CC, qua cổng Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên, đứng chờ tại khu vực cổng chào xã B (Giáp ranh với khu phố D, thị trấn Y).
Về phía Lê Huy H10, sau khi hẹn đánh nhau với nhóm Hoàng Văn C cũng đã tập hợp được các đối tượng gồm: Lê Doãn Hậu H9, sinh ngày 24/4/2008 ở thôn V, xã C; L, sinh ngày 28/6/2006, trú ở thôn T, xã H; H, sinh ngày 20/5/2007, trú ở thôn T, xã C; L, sinh ngày 03/01/2008, trú ở thôn Đ, xã H; L, sinh ngày 06/12/2009, trú ở khu phố X, thị trấn Y; Lê Văn P1, sinh ngày 01/8/2008, trú ở khu phố C, thị trấn Y; Nguyễn Thị Hà L4, sinh ngày 04/10/2008 ở khu phố Y, thị trấn Y và Lê Thị Ngọc N3, sinh ngày 16/02/2010 ở khu phố X, thị trấn Y; Lê Hữu Minh Đ4, sinh ngày 26/3/2008 ở thôn Đ, xã H; Đào Quang K1, sinh ngày 08/01/2008 ở thôn T, xã H; H, sinh ngày 17/8/2007; Lê Văn Q, sinh ngày 24/6/2008; Lê Văn D, sinh ngày 14/11/2006 cùng ở thôn L, xã H tại quán Z ở khu đường Z, thị trấn Y. Tại đây, H10 thông báo về việc hẹn đánh nhau, sau đó cả bọn thống nhất đi trên 05 xe mô tô đi tìm đánh nhau với nhóm của Hoàng Văn C, riêng Lê Văn P1 không đi cùng, ngồi lại quán uống nước. Lúc đầu, cả bọn đi theo đường Thanh Niên để lên chùa Y nhưng do Hoàng Văn C gọi cho H10 hẹn vào khu vực Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên nên nói cả nhóm quay xe lại, đi vào chỗ hẹn đánh nhau. Lúc này còn có Cao Văn Đ3, sinh ngày 16/02/2005, ở thôn X, xã H; Nguyễn Thế T8, sinh ngày 14/7/2005 ở thôn V, xã C và Lê Văn C4, sinh ngày 24/6/2007, ở thôn C, xã C đang đi chơi cùng nhau ở khu vực ngã tư thị trấn Y thấy nhóm của H10 đi qua, biết có đánh nhau nên cả ba lên xe mô tô (C4 là người điều khiển) đi theo nhóm của H10 để xem đánh nhau.
Đến khoảng hơn 21 giờ 10 phút cùng ngày, khi đến gần ngã ba từ Quốc lộ A rẽ vào Tỉnh lộ 520C (đường rẽ vào Trung tâm G) thì Lê Văn C4 điều khiển xe vượt lên, đi vào phía trong trước để xem xét tình hình. Khi đi qua cổng Trung tâm G nhưng không thấy ai nên Lê Văn C4 quay xe đi ra. Lúc này, nhóm Hoàng Văn C đang đứng gần cổng chào xã B, phát hiện xe Lê Văn C4, nghĩ rằng đó là nhóm của Lê Huy H10 nên Hoàng Văn C hô hào cả nhóm đuổi theo. Nghe vậy, Lê H9 điều khiển xe chở Hữu A1 và Hoàng Văn C đi trước; N2 điều khiển xe chở N1 và T5; L điều khiển xe chở Đ, Đ4 và C2; V điều khiển chở Đ3 và D1 cùng lao từ trên dốc xuống, còn Minh H11, B1, S, B2 đứng lại ở cổng chào xã B, không tham gia đuổi đánh nhau. Hữu Al và Hoàng Văn C ngồi sau xe của Lê H9 dùng vỏ chai bia ném về phía xe của Lê Văn C4, sau đó do nhận ra Cao Văn Đ3, biết nhầm người nên C4 tiếp tục ném vỏ chai bia về phía xe của H8 đang chở Ngọc L5 và Linh N4 đi từ phía ngoài vào. Thấy vậy, H8 quay xe bỏ chạy. Cùng thời điểm, nhóm của Lê Huy H10 cũng đang từ phía ngoài Quốc lộ A đi vào, thấy có nhiều xe mô tô đang phóng nhanh xuống ở phía ngược chiều nên đều quay đầu xe bỏ chạy, K1 dừng xe để Mạnh C3, T6 xuống nhặt gậy, rồi tiếp tục lên xe chạy ngược ra phía ngã ba giáp Quốc lộ A, khi ra gần đến thì gặp xe do Hậu H9 điều khiển bị ngã nên dừng xe lại; còn Lê Huy H10 tiếp tục điều khiển xe rẽ về hướng Bệnh viện Đa khoa huyện N. Nhóm của Hoàng Văn C tiếp tục phóng xe đuổi theo, dùng vỏ chai bia ném về phía Hậu Huy, Tuấn A2, Mạnh C3, K1 và T6, làm T6, Mạnh C3 vứt gậy bỏ chạy; C2 nhảy xuống xe dùng tuýp sắt đánh trúng vào người Hậu H9 và cầm vỏ chai bia ném Tuấn A2; N2 và V tiếp tục điều khiển xe truy đuổi theo xe của Lê Huy H10 để N1, T5 ngồi sau xe N2 và Đ3, Dương ngồi sau xe Việt ném vỏ chai bia về phía xe của H10. Quá trình này, sau khi bỏ chạy xe của Lê Văn C4 dừng lại ở đầu ngã ba, thấy xe Nhất chạy qua, T8 nhặt được cục đá ném về phía xe Nhất nhưng không trúng. Hai bên đuổi đánh nhau trong khoảng 10 phút, sau đó do nhóm của Lê Huy H10 đã bỏ chạy hết, nhóm Hoàng Văn C truy đuổi theo cũng bỏ về luôn nên hai bên không đánh nhau nữa.
Quá trình điều tra xác định sự việc các đối tượng dùng phương tiện là các xe mô tô, xe máy điện truy đuổi, sử dụng hung khí là các vỏ chai bia, tuýp sắt đánh nhau diễn ra trong thời gian khoảng tầm 10 phút tại khu vực đông dân cư sinh sống ở khu phố D, thị trấn Y.
Quá trình đuổi đánh nhau, Lê Đình MC bị thương phần mềm ở vùng đùi phải, cẳng chân phải; Lê Hữu Minh Đ4 bị thương phần mềm vùng trán, đầu gối phải; Lê Phúc Tuấn A2 bị thương ở khủy tay trái, mắt cá chân bên trái; Lê Văn D bị thương ở vùng lưng; Lê Doãn Hậu H9 bị thương ở cánh tay trái, mắt cá chân, cổ chân, bàn chân phải. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với các đối tượng nêu trên. Kết quả giám định tại các Bản kết luận giám định số 1779, 1780, 1781, 1782, 1783/KL - KTHS ngày 19/3/2024 của V1 Bộ C5 xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của các đối tượng Lê Đình Mạnh C3, Lê Hữu Minh Đ4, Lê Phúc Tuấn A2, Lê Văn D và Lê Doãn Hậu H9 đều là 0%.
Kết quả xác minh về nhân thân, tuổi của các đối tượng liên quan trong vụ án xác định: Tại thời điểm xảy ra vụ việc, các đối tượng đều có nhân thân tốt, chưa từng bị xét xử hoặc xử phạt vi phạm hành chính. Các đối tượng Vi Anh T5, Nguyễn Văn Nhất L6 những người trên 18 tuổi; Hoàng Văn C, Khương Mạnh Đ1, Hồ Duy L, Lê Đình N1, Lê Minh H11, Lê Đình C2, Lê Đình Đ, Nguyễn Văn Đ2, Nguyễn Lê H13, Lê Hữu A1, Bùi Chí Trường S, Lê Phúc Tuấn A2, Hoàng Công H12, Lê Đình Mạnh C3, Đào Quang K1, Hà Văn T6, Lê Văn D (H) là những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi; Lê Đình B2, Lê Hữu V, Lê Huy H10, Lê Doãn Hậu H9, Lê Văn D (Y), Lê Văn P1, Nguyễn Thị Hà L4, Lê Hữu Minh Đ4, Lê Văn Q là những người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi; Lê Thanh D1, Lê Hoàng B1 và Lê Thị Ngọc N3 là những người dưới 14 tuổi.
Bản Cáo trạng số: 32/CT- VKSNX ngày 06/09/2024 của Viện trưởng VKSND huyện Như Xuân, Thanh Hóa truy tố Hoàng Văn C, Lê Đình C2, Khương Mạnh Đ1, Hồ Duy L, Nguyễn Lê H13, Lê Hữu A1, Nguyễn Văn Đ2, Lê Đình Đ, Lê Đình N1, Nguyễn Văn N2, Vi Anh T5 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 91, Điều 101; Điều 58; Điều 38 và Điều 65 BLHS đối với các bị cáo Hoàng Văn C, Lê Đình C2, Khương Mạnh Đ1, Hồ Duy L, Nguyễn Lê H13, Lê Hữu A1, Nguyễn Văn Đ2, Lê Đình Đ, Lê Đình N1.
Đề nghị tuyên phạt bị cáo:
Hoàng Văn C từ 21 đến 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 42 đến 48 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”;
Các bị cáo: Lê Đình C2, Hồ Duy L, Khương Mạnh Đ1, Nguyễn Lê H13, Lê Hữu A1, Nguyễn Văn Đ2, Lê Đình Đ, Lê Đình N1 từ 18 đến 21 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 đến 42 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 58, Điều 38 và Điều 65 BLHS đối với các bị cáo Nguyễn Văn N2 và Vi Anh T5.
Đề nghị tuyên phạt bị cáo: Nguyễn Văn N2, Vi Anh T5 từ 24 đến 27 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 đến 54 tháng về tội “Gây rối trật tự công cộng”
- Áp dụng Điều 136 BLTTHS, Nghị quyết 326/2016 của QH khóa 14 ngày 30/12/2016, buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST.
Tại phiên tòa, Người đại diện hợp pháp cho các bị cáo Hoàng Văn C, Lê Đình Đ, Hồ Duy L có ý kiến mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tuyên phạt đối với các bị cáo là quá cao, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Người đại diện hợp pháp cho các bị cáo Nguyễn Lê H13, Lê Hữu A1, Khương Mạnh Đ1, Lê Đình N1, Nguyễn Văn Đ2 thống nhất và không có yêu cầu gì.
Tại phiên tòa, Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo Lê Đình C2, Hoàng Văn C, Khương Mạnh Đ1, Lê Đình N1, Lê Đình Đ, Hồ Duy L, Nguyễn Văn Đ2, Lê Hữu A1, Nguyễn Lê H13 nêu quan điểm: Nhất trí với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố các bị cáo Lê Đình C2, Hoàng Văn C, Khương Mạnh Đ1, Lê Đình N1, Lê Đình Đ, Hồ Duy L, Nguyễn Văn Đ2, Lê Hữu A1, Nguyễn Lê H13 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự;
Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo bị cáo Lê Đình C2, Hoàng Văn C, Khương Mạnh Đ1, Lê Đình N1, Lê Đình Đ, Hồ Duy L, Nguyễn Văn Đ2, Lê Hữu A1, Nguyễn Lê H13. Xem xét cho bị cáo Lê Đình C2, Hoàng Văn C, Khương Mạnh Đ1, Lê Đình N1, Lê Đình Đ, Hồ Duy L, Nguyễn Văn Đ2, Lê Hữu A1, Nguyễn Lê H13 được hưởng mức án thấp nhất của hình phạt mà điều luật quy định để các bị cáo yên tâm cải tạo, sớm thành công dân tốt.
Về án phí: Do gia đình bị cáo Lê Hữu Al và bị cáo Lê Đình Đ thuộc hộ cận nghèo nên đề nghị hội đồng xét xử xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Hữu Al và Lê Đình Đ. Đối với các bị cáo Lê Đình C2, Hoàng Văn C, Khương Mạnh Đ1, Lê Đình N1, Hồ Duy L, Nguyễn Văn Đ2, Nguyễn Lê H13 đề nghị HĐXX xem xét theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lê Đình C2, Hoàng Văn C, Khương Mạnh Đ1, Lê Đình N1, Lê Đình Đ, Hồ Duy L, Nguyễn Văn Đ2, Lê Hữu A1, Nguyễn Lê H13 đều thống nhất với quan điểm của trợ giúp viên pháp lý, không bổ sung ý kiến bào chữa và không tranh luận gì.
Các bị cáo Nguyễn Văn N2 và Vi Anh T5 đều không trình bày lời bào chữa và không tranh luận gì với quan điểm luận tội và mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng các bị cáo nhận tội, tỏ ra ăn năn hối lỗi và xin HĐXX xem xét cho các bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật và cho các bị cáo mức án thấp nhất để các bị cáo có cơ hội sữa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Do mâu thuẫn trên mạng xã hội nên tối ngày 18/01/2024, Hoàng Văn C đã hẹn Lê Huy H10 để đánh nhau, C nhắn tin trên nhóm chát Messeger, gọi điện cho các đối tượng khác cùng tham đánh nhau. Sau đó, Hoàng Văn C hẹn nhóm của Lê Huy H10 đến khu vực dọc đường Tỉnh lộ 520C gần Trung tâm G ở khu phố D, thị trấn Y để đánh nhau, rồi cùng cả nhóm chia nhau cầm các vỏ chai bia, tuýp sắt đã chuẩn bị trước đi đến cổng chào xã B (tiếp giáp với khu phố D, thị trấn Y) đón đánh nhóm của Lê Huy H10. Khoảng hơn 21 giờ 10 phút cùng ngày, khi thấy nhóm của Lê Huy H10 đến, Hoàng Văn C đã hô hào, la hét và cùng với Lê Đình C2, Khương Mạnh Đ1, Hồ Duy L, Nguyễn Lê H13, Lê Hữu A1, Nguyễn Văn Đ2, Lê Đình Đ, Lê Đình N1, Nguyễn Văn N2, Vi Anh T5, Lê Thanh D1, Lê Hữu V (Trong đó Lê Thanh D1 và Lê Hữu V là những người dưới 16 tuổi) cầm theo các hung khí đã chuẩn bị, đi trên 04 xe mô tô, xe điện lao từ trên dốc xuống, truy đuổi, ném vỏ chai bia, dùng tuýp sắt tấn công những người trong nhóm của Lê Huy H10, làm những người trong nhóm của Lê Huy H10 bỏ chạy, có 05 người bị thương tích (nhưng có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể đều là 0%); quá trình lùa đuổi, đánh nhóm Lê Huy H10, nhóm của C còn đánh nhầm Lê Văn C4, Cao Văn Đ3, Nguyễn Thế T8 đang có mặt ở khu vực xảy ra vụ việc. Hành vi lùa đuổi, hò hét, sử dụng hung khí nguy hiểm là gậy tuýp sắt, vỏ chai bia để đánh nhau, gây thương tích cho nhau tại khu vực trên đường tỉnh lộ 520CC và Quốc lộ A trong thời gian khoảng 10 phút của các đối tượng nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, đã phá vỡ trật tự kỷ cương, an toàn xã hội, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn và việc thực hiện chính sách, pháp luật của chính quyền địa phương. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản khám xét, bản tự khai, biên bản lấy lời khai của các bị cáo, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[3] Các bị cáo Hoàng Văn C, Hồ Duy L, Lê Đình Đ, Nguyễn Lê H13, Lê Hữu A1, Lê Đình N1, Khương Mạnh Đ1, Lê Đình C2, Nguyễn Văn Đ2 đều là các bị cáo có độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi. Riêng bị cáo Nguyễn Văn N2 và Vi Anh T5 đã đủ 18 tuổi, là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Việc sử dụng hung khí nguy hiểm, gây rối trật tự công cộng của các bị cáo là trái pháp luật, xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn xã hội, vi phạm nếp sống văn minh, quy tắc của cuộc sống cộng đồng, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường ở những nơi công cộng, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, gây mất trật tự an toàn công cộng, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội: “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi và hậu quả: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự vì vậy cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự. Đây là vụ án có nhiều người tham gia do Hoàng Văn C khởi xướng nhưng chỉ mang tính bột phát, không có sự phân công vai trò cụ thể, không cấu kết chặt chẽ trong thực hiện hành vi phạm tội nên chỉ là đồng phạm giản đơn giữa các bị cáo trong vụ án. Nhưng cũng cần thiết phải có hình phạt tương xứng đối với hành vi của các bị cáo để giáo dục các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa và giáo dục những người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
[5] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, xét về vai trò của các bị cáo thấy rằng:
* Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Hoàng Văn C, Hồ Duy L, Lê Đình Đ, Nguyễn Lê H13, Lê Hữu A1, Lê Đình N1, Khương Mạnh Đ1, Lê Đình C2, Nguyễn Văn Đ2, Nguyễn Văn N2, Vi Anh T5 đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Tất cả các bị cáo đều phạm tội lần đầu.
Bị cáo Hoàng Văn C đã cùng với gia đình có nhiều đóng góp về vật chất chung tay vì cộng đồng, đã tham ủng hộ quỹ vì người nghèo và ủng hộ đồng bào lũ lụt (Có xác nhận của chính quyền và thư cảm ơn của địa phương nơi bị cáo cư trú). Mặt khác bị cáo có ông ngoại có thời gian tham gia thanh niên xung phong, phục vụ kháng chiến, có bà nội được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước.
Bị cáo Hồ Duy L và gia đình có nhiều đóng góp về vật chất chung tay vì cộng đồng, bị cáo tích cực tham ủng hộ quỹ vì người nghèo và ủng hộ đồng bào lũ lụt (Có xác nhận của chính quyền và thư cảm ơn của địa phương nơi bị cáo cư trú). Mặt khác bị cáo có ông nội được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước.
Bị cáo Lê Đình Đ đã có đóng góp tham ủng hộ quỹ vì người nghèo và ủng hộ đồng bào lũ lụt (Có xác nhận của chính quyền và thư cảm ơn của địa phương nơi bị cáo cư trú). Mặt khác bị cáo Đ, có bà nội đã có thời gian phục vụ quân đội, có nhiều thành tích đóng góp đối với địa phương nơi cư trú.
Bị cáo Nguyễn Lê H13 đã tích cực tham ủng hộ quỹ ủng hộ tân binh lên đường nhập ngũ (Có xác nhận của chính quyền và thư cảm ơn của địa phương nơi bị cáo cư trú). Mặt khác bị cáo có bác ruột là thương, bệnh binh có thời gian dài tham gia quân ngũ, được tặng thưởng huân chương chiến sĩ hạng ba.
Bị cáo Lê Hữu A1 đã tích cực tham gia ủng hộ quỹ tân binh lên đường nhập ngũ (Có xác nhận của chính quyền và thư cảm ơn của địa phương nơi bị cáo cư trú). Ngoài ra bị cáo có ông nội đã có thời gian tham gia, hoàn thành nhiệm vụ thanh niên xung phong khắc phục hậu quả chiến tranh, tích cực xây dựng kinh tế mới. Bản thân gia đình bị cáo hiện tại là hộ cận nghèo của địa phương, hoàn cảnh gia đình khó khăn.
Bị cáo Lê Đình N1 đã tích cực tham ủng hộ quỹ vì người nghèo và ủng hộ đồng bào lũ lụt (Có xác nhận của chính quyền và thư cảm ơn của địa phương nơi bị cáo cư trú). Ngoài ra, bị cáo N1 còn có thân nhân là ông Lê Đình S1, là liệt sĩ, hiện tại gia đình bị cáo N1 đang trực tiếp thờ cúng liệt sĩ.
Bị cáo Khương Mạnh Đ1 có mẹ đẻ hiện là giáo viên, có nhiều thành tích trong công tác giảng dạy và được khen thưởng.
Bị cáo Lê Đình C2 đã tích cực tham gia ủng hộ quỹ vì người nghèo và ủng hộ quỹ tân binh lên đường làm nghĩa vụ quân sự (Có xác nhận của chính quyền và thư cảm ơn của địa phương nơi bị cáo cư trú). Mặt khác bị cáo Chung còn có bà nội được tặng thưởng bằng khen vì đã có thành tích tham gia trong công cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước.
Bị cáo Nguyễn Văn Đ2 đã tích cực tham ủng hộ đồng bào lũ lụt (Có xác nhận của chính quyên và thư cảm ơn của địa phương nơi bị cáo cư trú). Bị cáo Đ2 còn có ông nội được tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước.
Bị cáo Nguyên Văn N2 đã tích cực đóng góp, ủng hộ quỹ vì người nghèo (Có xác nhận của chính quyền và thư cảm ơn của địa phương nơi bị cáo cư trú).
Bị cáo Vi Anh T5 đã tích cực ủng hộ quỹ vì người nghèo và ủng hộ đồng bào lũ lụt (Có xác nhận của chính quyền và thư cảm ơn của địa phương nơi bị cáo cư trú). Ngoài ra bị cáo T5 có ông ngoại được tặng thưởng bằng khen trong cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước.
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Tất cả các bị cáo Hoàng Văn C, Hồ Duy L, Lê Đình Đ, Nguyễn Lê H13, Lê Hữu A1, Lê Đình N1, Khương Mạnh Đ1, Lê Đình C2, Nguyễn Văn Đ2, Nguyễn Văn N2, Vi Anh T5 đều không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định của Bộ luật hình sự.
* Về nhân thân: Trước lần phạm tội này tất cả các bị cáo Hoàng Văn C, Hồ Duy L, Lê Đình Đ, Nguyễn Lê H13, Lê Hữu A1, Lê Đình N1, Khương Mạnh Đ1, Lê Đình C2, Nguyễn Văn Đ2, Nguyễn Văn N2, Vi Anh T5 đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bản thân các bị cáo và gia đình luôn chấp hành tốt quy định pháp luật, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân nơi cư trú.
Về vai trò của các bị cáo trong vụ án:
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc phân công vai trò cụ thể, mà hành vi phạm tội mang tính bột phát, các bị cáo đều là những người thực hành tội phạm. Trong đó, bị cáo Hoàng Văn C là người khởi xướng việc đánh nhau, tích cực tham gia, hô hào, truy đuổi, tấn công nhóm thanh niên của Lê Huy H10 và những người khác nên có vai trò cao hơn các bị cáo khác trong vụ án. Các bị cáo còn lại Lê Đình C2, Hồ Duy L, Khương Mạnh Đ1, Nguyễn Lê H13, Lê Hữu A1, Nguyễn Văn Đ2, Lê Đình Đ, Lê Đình N1, Nguyễn Văn N2, Vi Anh T5 đều là những người hưởng ứng, cùng với C thực hiện tội phạm nên có vai trò như nhau và thấp hơn so với bị cáo C.
[6] Về hình phạt:
Căn cứ vào tính chất mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội trên cơ sở xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò của các bị cáo để lên cho mỗi bị cáo một mức hình phạt tương xứng nhất định phù hợp đối với hành vi của các bị cáo, vừa đạt được mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung, vừa đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo cải tạo trở thành công dân lương thiện nhưng đồng thời cũng để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật. Xét thấy Hoàng Văn C, Lê Đình C2, Hồ Duy L, Khương Mạnh Đức Nguyễn Lê H13, Lê Hữu A1, Nguyễn Văn Đ2, Lê Đình Đ, Lê Đình N1, Nguyễn Văn N2, Vi Anh T5 đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó đều có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 điều 51 BLHS. Các bị cáo đều có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng. Mặt khác các bị cáo Hoàng Văn C, Hồ Duy L, Lê Đình Đ, Nguyễn Lê H13, Lê Hữu A1, Lê Đình N1, Khương Mạnh Đ1, Lê Đình C2, Nguyễn Văn Đ2 đều là những người có độ tuổi từ 16 đến dưới 18 tuổi nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội để tạo điều kiện cho các bị cáo được hưởng mức án phù hợp, cho các bị cáo được cải tạo ở ngoài xã hội để các bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và là bài học cho chính bản thân các bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Đối với các dữ liệu camera: Thu giữ được dữ liệu camera của gia đình chị Vũ Thị T9, chị Bùi Thị L1, anh Lê Ngọc Q1 đã được trích xuất, lưu giữ trong 03 USB. Đây là vật chứng liên quan đến vụ án, hiện đang được lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án, xét thấy cần tiếp tục lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án là phù hợp.
Đối với:
- + 05 (Năm) vỏ chai bia nhãn hiệu Tiger màu trắng, KT 23cm x 06cm
- + 04 (Bốn) vỏ chai bia nhãn hiệu "THABREW" màu xanh, KT 22cm x 06cm.
- + Các mảnh vỡ thuỷ tinh màu nâu, xanh, trắng (Dạng mảnh vỡ từ vỏ chai bia) có nhiều kích thước, hình dạng khác nhau.
- + 01 két bia bằng nhựa, màu xám, KT 30cm x 30cm x 40cm, mặt ngoài két bia có in hình con hổ và dòng chữ "Tiger".
Đây là vật chứng của vụ án đã thu giữ, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với việc Thu giữ các phương tiện do các đối tượng giao nộp:
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh đen BKS: 36M1 - 243.73 do Lê Doãn Hậu H9 điều khiển.
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS: 36K3-160.76 do Hoàng Công H8 điều khiển.
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng BKS: 36B4 - 332.10 do Nguyễn Lê H13 điều khiển.
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đỏ BKS: 36K3 - 172.90 do Lê Văn Q điều khiển.
- + 01 xe máy điện Vinfast màu đỏ đen BKS: 36MD7- 607.32 do Lê Thanh D1 điều khiển.
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen BKS: 36AA - 975.01 do Bùi Chí Trường S điều khiển.
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode màu xám trắng BKS: 36B4 - 054.54 do Hồ Duy L điều khiển.
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S 110 màu xanh đen BKS: 36K3-130.59 do Đào Quang K1 điều khiển.
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ BKS: 36K3-121.53 do Lê Huy H10 điều khiển.
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade BKS: 36K3-060.08 do Nguyễn Văn N2 điều khiển.
- + 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng BKS: 36B4 - 332.10 do Nguyễn Lê H13 điều khiển.
Quá trình làm việc, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, làm rõ nguồn gốc của các phương tiện nêu trên và đã ra Quyết định xử lý, trả lại các phương tiện nêu trên cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về các vấn đề khác:
- Đối với hành vi của Lê Thanh D1, Lê Đình B2, Lê Hữu V: C, B2, V đều biết việc Hoàng Văn C hẹn đánh nhau với Lê Huy H10 và thống nhất ý chí, cùng tham gia tập trung tại khu vực cổng chào xã B chờ nhóm H10. Khi xảy ra sự việc, D1, V có dùng chai bia ném về phía xe Lê Huy H10, còn B2 có mang theo vỏ chai bia nhưng đứng ở cổng chào không tham gia đuổi đánh, không ném vỏ chai bia. Thời điểm xảy ra sự việc ngày 18/01/2024, D1 chưa đủ 14 tuổi; Bắc, V chưa đủ 16 tuổi. Do đó, hành vi của các đối tượng không cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại Điều 318 BLHS. (Cơ quan điều tra đã đề nghị áp dụng biện pháp xử lý giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với Lê Đình B2 và Lê Hữu V). Nên HĐXX không xem xét.
- Đối với Lê Hoàng B1, Lê Minh H11, Bùi Chí Trường S: Cả B1, H11, S đều biết việc Hoàng Văn C hẹn đánh nhau với Lê Huy H10, đồng ý cùng đi đến khu vực cổng chào xã B chờ đánh nhóm của H10. Nhưng khi xảy ra sự việc, B1, H11 và S đứng ở cổng chào xã B, không thực hiện việc đánh nhau, gây rối. Hành vi tụ tập đông người để nhằm đánh nhau của những người này chưa đến mức xử lý hình sự. Cơ quan điều tra đã đề nghị xử phạt hành chính đối với H11 và S, riêng Lê Hoàng B1 chưa đủ 14 tuổi nên không có căn cứ để xử lý.
- Hành vi của Lê Huy H10, Lê Văn D (ở thị trấn Y), Lê Hữu Minh Đ4, Lê Doãn Hậu H9, Đào Quang K1, Hà Văn T6, Lê Đình Mạnh C3, Lê Phúc Tuấn A2, Nguyễn Thị Hà L4, Lê Thị Ngọc N3, Hoàng Công H8 là những người cùng đi đánh nhau với nhóm Hoàng Văn C. Nhưng khi đến nơi, bị nhóm của Hoàng Văn C tấn công, truy đuổi, những người này không chống trả, không đánh lại nhóm của Hoàng Văn C, hành vi tụ tập đông người đi đánh nhau của họ chưa đến mức xử lý hình sự. Cơ quan điều tra đã đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với những người này theo quy định, riêng Lê Thị Ngọc N3 là người dưới 14 tuổi nên không có căn cứ để xử lý.
- Đối với Lê Văn Q và Lê Văn D (ở xã H) là những người được Đào Quang K1 rủ xuống thị trấn Y đi chơi, sau đó đi cùng nhóm với K1. Khi phát hiện các đối tượng dùng xe máy truy đuổi và dùng vỏ chai bia ném về phía nhóm Lê Huy H10 thì Q và D quay xe bỏ chạy luôn, không tham gia việc đuổi đánh nhau. Do đó, hành vi của Q và D không cấu thành tội Gây rối trật tự công cộng quy định tại Điều 318 BLHS.
- Đối với Cao Văn Đ3, Lê Văn C4 và Nguyễn Thế T8 là những người không có mâu thuẫn với cả hai nhóm, thời điểm xảy ra sự việc Đ3, C4, T8 đi vào để xem thì bị nhóm của Hoàng Văn C tấn công. Khi bị tấn công, truy đuổi, Đ3, C không có hành động nào khác, còn T8 bực tức nhặt đá ném lại nhưng chưa đến mức xử lý trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra đã đề nghị xử phạt hành chính đối với Nguyễn Thế T8 theo quy định.
Đối với hành vi gây thương tích, Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định thương tích, kết quả: các bị cáo bị gây thương tích đều có thương tích 0% (Không phần trăm). Những người này không có yêu cầu và đề nghị gì nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý hành vi Cố ý gây thương tích của các đối tượng. Do đó HĐXX không xem xét.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Riêng bị cáo Lê Hữu Al, bị cáo Lê Đình Đ là người bị kết án nhưng gia đình bị cáo Al và bị cáo Đ thuộc hộ cận nghèo, các bị cáo và trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo có đề nghị miễn án phí (Có cung cấp số cận nghèo) kèm theo, nên Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Al và bị cáo Đ là phù hợp.
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng Văn C, Lê Đình C2, Hồ Duy L, Lê Đình Đ, Nguyễn Lê H13, Lê Hữu A1, Lê Đình N1, Khương Mạnh Đ1, Nguyễn Văn Đ2, Nguyễn Văn N2, Vi Anh T5 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 17, Điều 58; Điều 38; Điều 65; Điều 91; Điều 101 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hoàng Văn C, Lê Đình C2, Hồ Duy L, Nguyễn Lê H13, Lê Hữu A1, Lê Đình N1, Khương Mạnh Đ1, Lê Đình Đ, Nguyễn Văn Đ2.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn C 21 (Hai mươi mốt) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 42 (bốn mươi hai) tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/11/2024.
Xử phạt: Bị cáo Lê Đình C2 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/11/2024.
Xử phạt: Bị cáo Hồ Duy L 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/11/2024.
Xử phạt: Bị cáo Lê Đình Đ 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/11/2024.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Lê H13 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/11/2024.
Xử phạt: Bị cáo Lê Hữu A1 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/11/2024.
Xử phạt: Bị cáo Lê Đình N1 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/11/2024.
Xử phạt: Bị cáo Khương Mạnh Đ1 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/11/2024.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn Đ2 18 (Mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/11/2024.
Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 50, Điều 17, Điều 58; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn N2 và Vi Anh T5.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N2 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/11/2024.
Xử phạt: Bị cáo Vi Anh T5 24 (Hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng. Kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/11/2024.
Giao các bị cáo Hoàng Văn C, Hồ Duy L, Lê Đình Đ, Lê Hữu A1, Lê Đình N1, Khương Mạnh Đ1, Lê Đình C2, Nguyễn Văn Đ2, Vi Anh T5 cho UBND thị trấn Y, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Lê H13 cho UBND thị T11, huyện K, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Nguyễn Văn N2 cho UBND xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015;
- - Tiếp tục lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án các dữ liệu camera: Dữ liệu camera của gia đình chị Vũ Thị T9, chị Bùi Thị L1, anh Lê Ngọc Q1 đã được trích xuất, lưu giữ trong 03 USB.
- - Tịch thu tiêu huỷ:
- + 05 (Năm) vỏ chai bia nhãn hiệu Tiger màu trắng, KT 23cm x 06cm
- + 04 (Bốn) vỏ chai bia nhãn hiệu "THABREW" màu xanh, KT 22cm x 06cm.
- + Các mảnh vỡ thuỷ tinh màu nâu, xanh, trắng (Dạng mảnh vỡ từ vỏ chai bia) có nhiều kích thước, hình dạng khác nhau.
- + 01 két bia bằng nhựa, màu xám, KT 30cm x 30cm x 40cm, mặt ngoài két bia có in hình con hổ và dòng chữ "Tiger".
Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 02/2024/TSTV ngày 24/10/2024 giữa Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Như Xuân.
Về án phí và quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 135, khoản 2 điều 136 BLTTHS năm 2015, điểm a khoản 1 điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12 nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí lệ phí Tòa án; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Buộc các bị cáo Hoàng Văn C, Hồ Duy L, Nguyễn Lê H13, Lê Đình N1, Khương Mạnh Đ1, Lê Đình C2, Nguyễn Văn Đ2, Nguyễn Văn N2, Vi Anh T5. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí HSST.
Miễn án phí HSST cho các bị cáo Lê Hữu Al và bị cáo Lê Đình Đ.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/11/2024).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thu Hằng |
Bản án số 35/2024/HSST ngày 27/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 35/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn C và Đồng phạm gây rối trật tự công cộng
