Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 22 - 11 - 2024

V/v “Tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hà
  • Các Thẩm phán: Bà Đinh Cẩm Đào
  • Ông Nguyễn Thế Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Khuyên là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Màu - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 41/2024/TLPT-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc: Tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn.

Do bản hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 221/2024/HNGĐ-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 42/2024/QĐXX-PT ngày 28 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1961.
  • Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.
  • Người đại diện uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Hồ Văn K, sinh năm 1983 (có mặt).
  • Địa chỉ: Khóm H, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau.
  • - Bị đơn: Bà Trương Thị T, sinh năm 1962.
  • Địa chỉ: Hẻm D, số nhà A, đường N, khóm F, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
  • Người đại diện uỷ quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1985
  • Địa chỉ cư trú: Hẻm D, số nhà A, đường N, khóm F, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Trương Hữu T1, sinh năm 1980; Địa chỉ: Ấp T, xã L, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Mai Dũng E, sinh năm 1976.

    Địa chỉ: Ấp V, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

  2. Bà Nguyễn Thị Huệ T2, sinh năm 1972.

    Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Bà Trương Thị T, sinh năm 1962, là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Ông Hồ Văn K đại diện ủy quyền cho nguyên đơn trình bày tại đơn khởi kiện, tại biên bản hòa giải và tại phiên tòa như sau: Vào ngày 08/8/2014 ông Nguyễn Văn Đ và bà Trương Thị T được Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau giải quyết ly hôn tại quyết định số 18 năm 2014, ông Đ và bà T được Tòa án giải quyết thuận tình ly hôn, về con chung đã trưởng thành không xem xét việc cấp dưỡng, về nợ chung do ông Đ có trách nhiệm trả, về tài sản chung tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.

Trước khi Tòa án giải quyết thì giữa ông Nguyễn Văn Đ và bà Trương Thị T có lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản cụ thể Tài sản nhà và đất có giá trị 300.000.000 đồng, phần tài sản thuộc ấp B, huyện P, tỉnh Cà Mau, về phần nợ chung bằng 200.000.000 đồng, nợ chung này do ông Đ có trách nhiệm trả, đối trừ nên tài sản còn 100.000.000 đồng vợ chồng chia đôi, ông Đ đã giao cho bà T số tiền 50.000.000 đồng coi như hai bên đã thỏa thuận xong.

Đối với phần tài sản thuộc ấp B, huyện P, tỉnh Cà Mau, do ông Đ đứng tên quyền sử dụng đất là tài sản của bà Hồ Thị S mẹ ruột ông Đ (đã chết) tặng cho riêng ông Đ.

Do ông Đ cần chuyển nhượng cho người khác bà T không đồng ý ký tên để chuyển nhượng.

Nay ông yêu cầu giải quyết phần đất có diện tích 12.750m² phần đất tọa lạc ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau là tài sản riêng của ông Đ. Theo thửa số 172, tờ bản đồ số 02, được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau cấp ngày 09/8/1993 cho ông Nguyễn Văn Đ đứng tên chủ sử dụng.

Tại phiên tòa ông Đ yêu cầu phần diện tích theo đo đạc bằng 13.238,8m².

* Bà Nguyễn Thị Y là người đại diện ủy quyền cho bị đơn bà Trương Thị T trình bày như sau: Theo bà được biết, phần đất này có nguồn gốc của bà Hồ Thị S là mẹ chồng bà T cho khi ông Đ và bà T sống chung vợ chồng với nhau.

Tại văn bản thỏa thuận ngày 03/6/2014 bà thống nhất do bà T có ký tên, tuy nhiên số tiền thỏa thuận ông Đ còn nợ 5.000.000 đồng, chưa thanh toán đủ cho bà T nên hợp đồng thỏa thuận không còn giá trị.

Nay yêu cầu của ông Đ phần đất có diện tích 12.750m², tọa lạc ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau tài sản riêng của ông Đ là không đúng.

Bà xác định phần tài sản của bà Hồ Thị S cho ông Đ và bà T khi cho chỉ có đất không có tài sản trên đất, sau khi chung sống với ông Đ, bà T có bỏ ra chi phí xây dựng căn nhà, nay bà T xác định tài sản chung của vợ, chồng bà yêu cầu nhận số tiền 150.000.000 đồng.

Tại phiên tòa bà Y xác định yêu chia đôi diện tích bằng 13.238,8m², yêu cầu nhận đất. Phần tài sản trên đất là căn nhà có giá trị yêu cầu chia đôi số tiền 20.000.000 đồng.

* Ông Mai Dũng E trình bày tại biên bản ghi ý kiến như sau: Ông là người đã nhận chuyển nhượng phần đất và nhà của ông Nguyễn Văn Đ với diện tích 12.700m², giá chuyển nhượng bằng 900.000.000 đồng, sau đó ông đặt cọc số tiền bằng 300.000 đồng và đưa nhiều lần tổng cộng 810.000.000 đồng, số tiền còn lại 80.000.000 đồng, hiện ông đang giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng bản gốc của ông Đ, phần đất ông chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Phần đất ông chuyển nhượng của ông Đ ông đang trực tiếp nuôi tôm cá từ năm 2023 cho đến nay.

Hiện ông Đ và bà bà có yêu cầu chia tài sản liên quan trực tiếp đến phần đất ông chuyển nhượng, ông Đ xác định không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Ý kiến ông yêu cầu ông Đ làm thủ sang tên cho ông.

Do công việc nên ông xin từ chối hòa giải và xét xử tại tòa án.

*Bà Nguyễn Thị Huệ T2 trình bày tại biên bản ghi ý kiến như sau: Phần đất tranh chấp nguồn gốc đất của ông Nguyễn Văn T3 và bà Hồ Thị S, cho ông Đ diện tích 12.750m², khi cho chỉ có đất không có nhà. Khi đó ông Đ đã có vợ bà bà Trương Thị T.

Đối với căn nhà bà không xác định được ông Đ hay bà T xây dựng do thời gian này bà đi xây dựng gia đình ở nơi khác, hiện căn nhà đã bỏ trống và ông Đ đã chuyển nhượng cho người khác.

Bà T2 cam kết lời trình bày của bà là đúng sự thật. Do công việc nên bà xin từ chối hòa giải và xét xử tại Tòa án.

Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 221/2024/HNGĐ-ST ngày 27/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau đã quyết định:

  • Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn.
  • Chấp nhận tài sản riêng của ông Nguyễn Văn Đ, diện tích bằng 13.238,8m² (Trong đó đất ONT + CLN diện tích 789,8m², đất NTS diện tích 12440,0m2), phần đất tọa lạc ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau, thuộc thửa đất số 238, 272; tờ bản đồ số 07, được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Minh Hải, cấp ngày 09/8/1993 cho ông Nguyễn Văn Đ đứng tên quyền sử dụng đất.
  • Không chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của bà Trương Thị T.
  • Buộc ông Nguyễn Văn Đ giao lại số tiền bằng 10.000.000 đồng (mười triệu đồng chẳn) cho bà Trương Thị T.
  • Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về lãi suất chậm thi hành, án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo luật định.

Ngày 09/9/2024 bị đơn bà Trương Thị T kháng cáo, yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án công nhận phần đất có diện tích 12750m² là tài sản riêng của ông Đ. Đồng thời, yêu cầu Tòa án thực hiện phân chia tài sản chung giữa bà và ông Đ theo hướng chia đôi diện tích 13238,8m², bà xin được nhận đất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Áp dụng 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Trương Thị T, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Tại phiên toà đại diện hợp pháp của bà Trương Thị T vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, lý do kháng cáo là trước đây giữa bà Trương Thị T và ông Nguyễn Văn Đ có thoả thuận phân chia tài sản nhưng ông Đ chưa thực hiện xong nên nay bà yêu cầu chia đôi tài sản là phần đất diện tích 13.238,8m² tại xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

[2]. Xét nội dung kháng cáo: Giữa ông Nguyễn Văn Đ và bà Trương Thị T đã được Toà án nhân dân huyện Phú Tân giải quyết ly hôn vào ngày 08/8/2014, về phần tài sản hai bên không yêu cầu Toà án giải quyết. Đại diện hợp pháp của Bà Trương Thị T thống nhất khi tiến hành ly hôn bà T và ông Đ có thoản thuận phân chia tài sản, tuy nhiên theo biên bản phân chia tài sản ông Nguyễn Văn Đ tự kê khai tài sản có giá thấp hơn thị trường và kê khai cả phần nợ nhưng nợ này là nợ riêng của ông Nguyễn Văn Đ, khi thoả thuận phân chia xong ông Nguyễn Văn Đ không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo biên bản thoả thuận cụ thể là ông Nguyễn Văn Đ chỉ giao 50.000.000 đồng, còn 5.000.000 đồng, không giao cho bà Trường Thị T4, việc bà Trương Thị T ký vào biên bản là do ông Nguyễn Văn Đ ép buộc vì bà T trước đó bị ông Đ đánh đập nhiều lần. Tại phiên toà hôm nay phía bà Trương Thị T cũng xác định khi ly hôn với ông Đ xong thì bà T không còn ở địa phương đi nơi khác và cũng không có ý kiến về việc ông Đ giao tiền cho bà.

Xét việc bà Trương Thị T và ông Nguyễn Văn Đ tự thoả thuận phân chia tài sản từ năm 2014. Từ năm 2014 bà Trương Thị T đã nhận đủ số tiền do hai bên thoả thuận khi lập biên bản, cụ thể bà Trương Thị T nhận 50.000.000 đồng, còn 5.000.000 đồng, mười ngày sau ông Nguyễn Văn Đ sẽ giao tiếp cho bà T. Từ năm 2014 đến nay bà Trương Thị T không yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ giao số tiền 5.000.000 đồng, không đặt ra vấn đề ông Đ kê khai giá trị tài sản chung của vợ chồng thấp hơn giá thực tế, cũng không đặt ra vấn đề ông Đ nợ riêng phải có trách nhiệm thanh toán, kể cả việc ông Đ ép bà T ký giấy thoả thuận chia tài sản. Như vậy, khi ly hôn bà T không còn sinh sống ở địa phương, không yêu

cầu ông Đ phải thanh toán tiếp số tiền 5.000.000 đồng, không ai tranh chấp, khiếu nại gì đối với biên bản thoả thuận phân chia tài sản. Do hai bên đã thực hiện về cơ bản nội dung giấy tự thoả thuận từ năm 2014 đến nay, đến khi ông Đ khởi kiện yêu cầu công nhận tài sản riêng của ông Đ thì bà T mới đặt ra tranh chấp. Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay bà T không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Trương Thị T.

Như phân tích trên, không có căn cứ chấp nhận lời tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T về vấn đề ông Đ vi phạm biên bản thoả thuận.

[3]. Đại diện viện kiểm sát đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Như phân tích trên đề nghị của Viện kiểm sát có cơ sở nên được chấp nhận.

[4]. Án phí phúc thẩm: Do bà Trương Thị T là người cao tổi, có đơn xin được miễn án phí nên xem xét miễn án phí phúc thẩm cho bà T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bà Trương Thị T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 221/2024/HNGĐ-ST ngày 27 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố Cà Mau.

Áp dụng các điều 33; 38; 43; 59; 62 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Điều 143 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12 Nghị quyết 326/20016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn Đ về việc yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn.

Chấp nhận tài sản riêng của ông Nguyễn Văn Đ, diện tích bằng 13.238,8m² (Trong đó đất ONT + CLN diện tích 789,8m², đất NTS diện tích 12440,0m2), phần đất tọa lạc ấp B, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau, thuộc thửa đất số 238, 272; tờ bản đồ số 07, được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Minh Hải, cấp ngày 09/8/1993 cho ông Nguyễn Văn Đ đứng tên quyền sử dụng đất.

(Kèm theo bản vẽ ngày 15/7/2024 của Chi nhánh M Công ty TNHH T5).

Ông Nguyễn Văn Đ có quyền liên hệ với cơ quan chức năng để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

Không chấp nhận yêu cầu chia tài sản chung của bà Trương Thị T.

Buộc ông Nguyễn Văn Đ giao lại số tiền bằng 10.000.000 đồng (mười triệu đồng chẳn) cho bà Trương Thị T.

Kể từ ngày đương sự có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án nếu đương sự có nghĩa vụ không thanh tóan số tiền trên thì hàng tháng phải

trả thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.

Án phí dân sự sơ thẩm về chia tài sản ông Nguyễn Văn Đ phải nộp án phí do ông Nguyễn Văn Đ là người cao tuổi nên được miễn. Bà Trương Thị T không phải nộp án phí do người cao tuổi được miễn.

Án phí phúc thẩm: Bà Trương Thị T được miễn.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân TP Cà Mau;
  • - Chi cục THADS TP Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Hải Hà

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HNGĐ-PT ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn

  • Số bản án: 35/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: không chấp nhận yêu cầu kháng cáo về chia tài sản chung; thỏa thuận phân chia tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger