Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG ĐIỀN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày: 14/11/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Hồng Tươi

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thanh Hải

2. Bà Nguyễn Thị Bích Liên

Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Loan Anh, thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền tham gia phiên tòa: ông Lưu Minh Cường- Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Bị cáo: Lê Ngọc H, sinh năm: 1971 tại Cần Thơ.

    Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: nữ; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: nội trợ; con ông: Lê Văn M, sinh năm 1933 (chết) và bà Lê Thị M1, sinh năm: 1940 (chết); Có 09 anh em, lớn sinh năm 1963, nhỏ sinh năm 1979; Chồng: Nguyễn Tiến D; có 04 người con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 2007.

    Tiền án: Không.

    Tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

  2. Bị cáo: Nguyễn Thị Ngọc D1, Sinh năm 1990 tại Vĩnh Long.

    Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ.

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: nữ; Trình độ học vấn: 0/12 (có thể đọc và viết được tiếng việt phổ thông) ; Nghề nghiệp: Nội trợ; con ông Lê Ngọc Ẩ, (chết) bà Nguyễn Thị T (chết); Có 01 em ruột sinh năm 2001; Chồng: Phan Văn T1, sinh năm 1989; Có 02 người con ruột có 02 (hai) người: lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh năm 2017.

    Tiền án: Không

    Tiền sự: Không

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 03/3/2024, Nguyễn Thị Ngọc D1 cùng với chồng uống rượu với vợ chồng người bạn tên T2 và H (không rõ lai lịch) tại nhà thuộc ấp N, xã N, huyện P, thành phố Cần Thơ. Trong lúc uống rượu, H hỏi D1 có biết người ghi số đề không, đồng thời nhờ D1 mua số đề giúp cho H. Sau đó, D1 điện thoại cho Lê Ngọc H để nói chuyện, thỏa thuận việc nhắn tin mua số lô, số đề, mua theo kết quả xổ số kiến thiết các đài M, đài Miền T3 và đài Miền B. Tỷ lệ mua số đầu, số đuôi tính 84%, bao lô hai con các đài M, đài Miền Trung tính A lô, đài Miền B tính 21/28 lô. Tỷ lệ ăn thua 01 trúng 70 đối với đầu đuôi và bao lô hai con, 01 trúng 600 đối với số đá. Ngoài ra, H còn giữ lại trực tiếp ăn thua với D1.

Sau đó D1 sử dụng tài khoản zalo tên “Ngọc T4” nhắn tin vào tài khoản zalo của H tên “Hương Lê” mua số lô, số đề được ăn thua bằng tiền trái phép vào ngày 03/3/2024 cụ thể như sau:

  • - Theo kết quả xổ số kiến thiết đài M2, với tổng số tiền đánh bạc là 19.730.000 đồng, bao gồm: Đài K số tiền trên phơi 1.690.000 đồng, số tiền trúng 14.700.000 đồng; Đài T số tiền trên phơi 970.000 đồng; Đài Đ số tiền trên phơi 970.000 đồng, số tiền trúng 1.400.000 đồng.
  • - Theo kết quả xổ số kiến thiết đài Miền T3, với số tiền đánh bạc là 1.240.000 đồng, bao gồm: Đài K số tiền trên phơi 180.000 đồng, số tiền trúng 700.000 đồng; Đài Kon Tum số tiền trên phơi 180.000 đồng; Đài T Số tiền trên phơi 180.000 đồng
  • - Theo kết quả xổ số kiến thiết đài Miền B với số tiền đánh bạc là 448.000 đồng.

Sau khi kết thúc xổ số các đài Miền Nam, Miền T3, Miền B vào ngày 03/3/2024, trừ tiền D1 đã mua số thì D1 còn lời được 13.254.000 đồng. Đến khoảng 09 giờ ngày 04/3/2024, D1 đến nhà H nhận tiền, do trước đó D1 có nợ tiền của H 2.200.000 đồng nên H trừ lại đưa cho D1 11.054.000 đồng, D1 không đồng ý, do tiền trúng số trên D1 mua dùm cho vợ chồng T2, H không phải tiền của D1. H vẫn trừ tiền nợ nên D1 trình báo Công an xã N.

Ngoài ra, vào ngày 02/3/2024 D1 mua số lô, số đề được ăn thua bằng tiền trái phép với H cụ thể như sau:

  • - Theo kết quả xổ số kiến thiết đài M, với số tiền đánh bạc là 4.136.000 đồng, bao gồm: Đài thành phố Hồ Chí Minh số tiền trên phơi 684.000 đồng, trúng 700.000 đồng; Đài Long An số tiền trên phơi 684.000 đồng, số tiền trúng 350.000 đồng; Đài B số tiền trên phơi 684.000 đồng, số tiền trúng 350.000 đồng; Đài H số tiền trên phơi 684.000 đồng. D1 đã trả tiền cho H 728.000 đồng.

Đối với người tên T2 và H (không xác định được lai lịch) nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, điều tra đủ căn cứ sẽ xử lý sau. Riêng, Phan Văn T1 (chồng của D1) thời điểm xảy ra sự việc không tham gia đánh bạc nên không xử lý.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý:

  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31, màu đen, có ốp lưng bằng nhựa màu trắng của Nguyễn Thị Ngọc D1;
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5S màu đen của Lê Ngọc H;
  • - 01 (một) tờ lịch ghi số tiền của H đưa cho D1;
  • - Tiền Việt Nam: 728.000 (Bảy trăm hai mươi tám ngàn đồng). H tự giao nộp (số tiền bán số đề cho D1 vào ngày 02/3/2024).
  • - 02 (hai) Đĩa CD maxell CD-R 80 MQ, trích xuất dữ liệu ghi hình có âm thanh trong quá trình hỏi cung bị can H và bị can D1.

Quá trình điều tra Lê Ngọc H và Nguyễn Thị Ngọc D1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi mua bán số lô, số đề nêu trên. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người mua số đề, các tài liệu chứng cứ được thu thập trong quá trình điều tra.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo xin được hưởng mức nhẹ nhất của khung hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu kết luận vụ án, vẫn giữ quan điểm truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản luật đã viện dẫn thời phân tích tính chất, mức độ, động cơ phạm tội của từng bị cáo từ đó đề xuất mức hình phạt cụ thể như sau:

  • Áp dụng Áp dụng điểm khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35. Xử phạt: Lê Ngọc H từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Nguyễn Thị Ngọc D1 từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Về xử lý đồ vật, tài liệu thu giữ trong vụ án: Áp dụng Áp dụng Điều 106 BLTTHS, Điều 47 Bộ luật hình sự:

  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31, màu đen của Nguyễn Thị Ngọc D1 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5S màu đen của Lê Ngọc H; Tiền Việt Nam: 728.000 (Bảy trăm hai mươi tám ngàn đồng) của H.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 ốp lưng bằng nhựa màu trắng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D1 và Lê Ngọc H đã thực hiện hành vi đánh bạc, bị cáo D1 điện thoại cho Lê Ngọc H để nói chuyện, thỏa thuận việc nhắn tin mua số lô, số đề, mua theo kết quả xổ số kiến thiết các đài M, đài Miền T3 và đài Miền B. Tỷ lệ mua số đầu, số đuôi tính 84%, bao lô hai con các đài M, đài Miền Trung tính A lô, đài Miền B tính 21/28 lô. Tỷ lệ ăn thua 01 trúng 70 đối với đầu đuôi và bao lô hai con, 01 trúng 600 đối với số đá. Ngoài ra, H còn giữ lại trực tiếp ăn thua với D1.

Sau đó D1 sử dụng tài khoản zalo tên “Ngọc T4” nhắn tin vào tài khoản zalo của H tên “Hương Lê” mua số lô, số đề được ăn thua bằng tiền trái phép vào ngày 03/3/2024 cụ thể như sau:

  • Theo kết quả xổ số kiến thiết đài M, với tổng số tiền đánh bạc là 19.730.000 đồng, bao gồm: Đài K số tiền trên phơi 1.690.000 đồng, số tiền trúng 14.700.000 đồng; Đài T số tiền trên phơi 970.000 đồng; Đài Đ số tiền trên phơi 970.000 đồng, số tiền trúng 1.400.000 đồng.
  • Theo kết quả xổ số kiến thiết đài Miền T3, với số tiền đánh bạc là 1.240.000 đồng, bao gồm: Đài K số tiền trên phơi 180.000 đồng, số tiền trúng 700.000 đồng; Đài Kon Tum số tiền trên phơi 180.000 đồng; Đài T Số tiền trên phơi 180.000 đồng
  • Theo kết quả xổ số kiến thiết đài Miền Bắc với số tiền đánh bạc là 448.000 đồng.

Sau khi kết thúc xổ số các đài Miền Nam, Miền T3, Miền B vào ngày 03/3/2024, trừ tiền D1 đã mua số thì D1 còn lời được 13.254.000 đồng. Đến khoảng 09 giờ ngày 04/3/2024, D1 đến nhà H nhận tiền, do trước đó D1 có nợ tiền của H 2.200.000 đồng nên H trừ lại đưa cho D1 11.054.000 đồng, D1 không đồng ý, do tiền trúng số trên D1 mua dùm cho vợ chồng T2, H không phải tiền của D1. H vẫn trừ tiền nợ nên D1 trình báo Công an xã N.

Ngoài ra, vào ngày 02/3/2024 D1 mua số lô, số đề được ăn thua bằng tiền trái phép với H cụ thể như sau:

  • Theo kết quả xổ số kiến thiết đài M, với số tiền đánh bạc là 4.136.000 đồng, bao gồm: Đài thành phố Hồ Chí Minh số tiền trên phơi 684.000 đồng, trúng 700.000 đồng; Đài Long An số tiền trên phơi 684.000 đồng, số tiền trúng 350.000 đồng; Đài B số tiền trên phơi 684.000 đồng, số tiền trúng 350.000 đồng; Đài H số tiền trên phơi 684.000 đồng. D1 đã trả tiền cho H 728.000 đồng.

Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D1 và Nguyễn Thị Ngọc H1 là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 điều 321 của bộ luật Hình sự như cáo trạng đã truy tố là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3] Xét thấy hành vi đánh bạc của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, pháp luật nghiêm cấm vì đó là tệ nạn xã hội. Từ tệ nạn đánh bạc tất yếu kéo theo hàng loạt hệ lụy những tội phạm khác, gây mất trật tự công cộng và xâm phạm đến tình hình an ninh trật tự của địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và biết pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý phạm tội nên cần có hình phạt nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo cho bị cáo biết tôn trọng pháp luật và có tác dụng phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy khi lượng hình cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cho các bị cáo như sau: Lê Ngọc H và Nguyễn Thị Ngọc D1 “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng được quy định tại điểm I khoản 1 Điều 51 BLHS, riêng Lê Ngọc H có thêm tình tiết nộp tiền bán số đề 10.000.000 đồng được quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền là phù hợp.

[5] Về xử lý vật chứng, Hội đồng xét xử xét thấy như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng theo quy định Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc H và Nguyễn Thị Ngọc D1 phạm tội “Đánh bạc”.

    • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung 2017.
    • Xử phạt bị cáo Lê Ngọc H số tiền 55.000.000đ (năm mươi lăm triệu đồng).
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i,s khoản 1 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015; sửa đổi, bổ sung 2017.
    • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc D1 số tiền 45.000.000đ (Bốn mươi lăm triệu đồng).
  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31, màu đen của Nguyễn Thị Ngọc D1 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5S màu đen của Lê Ngọc H; Tiền Việt Nam: 728.000 (Bảy trăm hai mươi tám ngàn đồng) của H.
    • - Tịch thu sung công số tiền 10.000.000 đồng bà Lê Thị H2 nộp khắc phục hậu quả trong vụ “Đánh bạc” theo biên lai thu tiền số 0002481 ngày 29/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 ốp lưng bằng nhựa màu trắng (Toàn bộ vật chứng nêu trên, Công an huyện P đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền).
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo có mặt tại phiên tòa, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo.

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - VKSND Tp. Cần Thơ;
  • - P.hồ sơ, nghiệp vụ CA TPCT;
  • - Sở tư pháp Tp. Cần Thơ;
  • - VKSND huyện Phong Điền;
  • - Chi cục THADS H. Phong Điền;
  • - CQĐT Công an H. Phong Điền;
  • - Đội CSTHAHS H.PD;
  • - Lưu HS (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Hồng Tươi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án sơ thẩm hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger