TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2024/HS-ST
Ngày: 28-10-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Lý
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Khánh
Ông Vũ Việt Trung
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Đình Lân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Xuê – Kiểm sát viên
Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Duy Đ; Sinh ngày: 22/8/1988;
Nơi cư trú: Thôn X, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12;
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông: Trần Văn S, sinh năm: 1964;
Con bà: Nguyễn Thị V, sinh năm: 1966;
Vợ: Thèn Thị M, sinh năm 1997;
Có 02 con, lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012;
Tiền án: Tại bản án số 11/2023/HSST ngày 20/02/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng xử phạt 01 năm tù về tội “Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/11/2023.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 07 ngày 13/01/2020 của Công an huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Đ 1.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng các loại pháo mà không được phép”. Bị cáo chấp hành xong ngày 13/01/2020.
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 89 ngày 24/7/2020 của Công an huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Đ 4.000.000 đồng về hành vi “Khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường”. Bị cáo đã chấp hành xong ngày 04/8/2020.
- Tại bản án số 500/2022/HS-PT ngày 18/7/2022 của Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phạt Điệp 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”. Bị cáo chấp hành xong thời gian thử thách ngày 18/7/2023.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/8/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phạm Văn Đ1 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh H. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hà Trọng M1, sinh năm: 1988
Địa chỉ: Đội Cảnh sát giao thông đường bộ số B, phòng C Công an tỉnh H. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người làm chứng:
- Anh Lê Hải Đ2, sinh năm: 1997
- Anh Nguyễn Mạnh T, sinh năm: 1976
- Anh Nguyễn Khánh T1, sinh năm: 2006
- Anh Nguyễn Trọng P, sinh năm 1978
- Anh Trần Văn N, sinh năm: 1974
- Anh Bùi Văn T2, sinh năm: 1974
- Anh An Văn Q, sinh năm 1985
- Anh Phạm Văn T3, sinh năm 1987.
Các người làm chứng vắng mặt (người làm chứng Lê Hải Đ2, Nguyễn Mạnh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 24/8/2024, Trần Duy Đ sau khi sử dụng rượu, bia khi hơi thở có nồng độ cồn 0,783mg/1 khí thở, điều khiển xe ô tô BKS 30F-095.63 của anh Nguyễn Trọng P đi trên quốc lộ C hướng từ Hưng Yên đi Hải Dương, trên xe có anh P ngồi ghế phụ, anh Trần Xuân N1 và cháu Thèn Linh N2, sinh năm 2021 ngồi ghế phía sau. Đến Km 15+400 địa phận thôn G, xã T, huyện T, xe ô tô do Đ điều khiển đã va chạm vào xe mô tô BKS 34B-426.66 do chị Nguyễn Thị T4 điều khiển phía trước cùng chiều làm chị T4 bị ngã, xe mô tô đổ ra đường. Đ dừng xe, cùng người dân đưa chị T4 lên xe taxi đi cấp cứu. Sau đó Đ lên xe ô tô chở cháu N2 rời khỏi hiện trường, Đ khai mục đích đi theo xe đưa chị T4 đi cấp cứu, còn anh P và anh N1 đi taxi về. Khi tai nạn xảy ra, quần chúng nhân dân đã thông báo cho Công an xã T, huyện T biết. Công an xã T đã báo cáo Phòng C Công an tỉnh H để giải quyết vụ tai nạn giao thông theo thẩm quyền. Đồng chí Nguyễn Khánh T1 – cán bộ Công an xã T đã điều khiển xe mô tô đuổi theo xe ô tô của Đ khoảng 800 mét thì đuổi kịp, đồng chí T1 yêu cầu Đ quay lại hiện trường để giải quyết tai nạn.
Sau khi nhận được thông tin, Lãnh đạo Phòng C đã chỉ đạo Tổ tuần tra kiểm soát số 1 phối hợp với Công an xã T làm công tác bảo vệ hiện trường, đảm bảo an ninh trật tự; chỉ đạo Tổ điều tra tai nạn giao thông Đội cảnh sát giao thông đường bộ số 2 đến khám nghiệm hiện trường và giải quyết vụ tai nạn giao thông theo thẩm quyền. Khoảng 21 giờ cùng ngày, khi các cán bộ, chiến sỹ Đội cảnh sát giao thông đường bộ số B1 đang thực hiện nhiệm vụ, yêu cầu Đ cung cấp thông tin cá nhân để giải quyết vụ tai nạn nhưng Đ không chấp hành, không cung cấp tên tuổi, địa chỉ mà cung cấp tên là S1 ở Vĩnh Phúc, đồng thời chửi bới, chống đối không hợp tác với lực lượng Công an.
Thấy Đ có dấu hiệu đã sử dụng rượu, bia, có dấu hiệu gây mất an ninh, trật tự, các cán bộ Đội cảnh sát giao thông yêu cầu Đ về trụ sở Công an xã T, huyện T để làm việc nhưng Đ không chấp hành, có lời lẽ xúc phạm lực lượng đang thi hành nhiệm vụ, dùng tay vung về phía đồng chí Nguyễn Mạnh T làm rơi mũ kêpi của đồng chí T. Các đồng chí Hà Trọng M1 và Lê Hải Đ2 đưa Đ lên xe ô tô chuyên dụng BKS 34A – 003.97 về trụ sở Công an xã T làm việc. Đ tiếp tục chửi bới, không chấp hành và đòi xuống xe, dùng chân đạp vào cánh cửa xe ô tô bên trái, khi đồng chí M1 ngăn cản thì Đ cắn vào cánh tay trái của đồng chí M1 gây trầy xước da và để lại vết răng trên cánh tay. Sau đó lực lượng Cảnh sát giao thông đã khống chế, đưa Đ về trụ sở Công an xã T làm việc.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 393/KLTTCT ngày 11/9/2024 của Sở y tế tỉnh H kết luận thương tích đối với đồng chí Hà Trọng M1: chấn thương phần mềm gây bầm tím, xước da mặt trước 1/3 trên cẳng tay trái, toàn thân không phát hiện dấu vết tổn thương di chứng, căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y: không có mục xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây ra.
Về trách nhiệm dân sự: Đồng chí Hà Trọng M1 chỉ bị xây xước da, không phải điều trị tại cơ sở y tế nào, từ chối giám định thương tích và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường, đối với xe mô tô BKS 34A – 003.97 không bị hư hỏng gì nên Phòng Cảnh sát giao thông không yêu cầu bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 33/VKS-HS-TM, ngày 02/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện truy tố Trần Duy Đ về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 24/8/2024, tại Km 15+400 quốc lộ C thuộc địa phận thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, bị cáo điều khiển xe ô tô BKS 34F-095.63 hướng Hưng Yên đi Hải Dương va chạm với xe mô tô BKS 34B-426.66 do chị Nguyễn Thị T4 điều khiển phía trước cùng chiều. Sau va chạm, Đ điều khiển xe ô tô rời khỏi hiện trường, Công an xã T đã yêu cầu Đ điều khiển xe ô tô về hiện trường để làm việc. Trong quá trình làm việc với Cán bộ phòng Cảnh sát giao thông tỉnh C, Đ đã có lời nói xúc phạm, dùng chân đạp vào cánh cửa xe ô tô chuyên dùng, dùng miệng cắn vào cẳng tay trái đồng chí Hà Trọng M1 làm xước da. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt mức thấp nhất cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị: tuyên bố bị cáo Trần Duy Đ phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm b khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 08 - 10 tháng tù.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo thống nhất với phần tội danh và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử khoan hồng, xử phạt bị cáo từ 06 - 07 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Người bào chữa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Về hành vi của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến sự việc. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 24/8/2024, tại Km 15+400 quốc lộ C thuộc địa phận thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương, bị cáo điều khiển xe ô tô gây va chạm với xe mô tô do chị Nguyễn Thị T4 điều khiển. Trong quá trình làm việc với Cán bộ phòng Cảnh sát giao thông tỉnh C về sự việc nêu trên, bị cáo có lời nói xúc phạm lực lượng cảnh sát giao thông đang thực hiện nhiệm vụ, dùng chân đạp vào cánh cửa xe ô tô chuyên dụng, dùng miệng cắn vào cẳng tay trái đồng chí Hà Trọng M1 làm xước da, cản trở cán bộ phòng C – Công an tỉnh H thi hành công vụ.
Xét, bị cáo là người đã thành niên, nhận thức được cảnh sát giao thông đang thực hiện nhiệm vụ yêu cầu bị cáo làm việc về sự việc bị cáo điều khiển xe ô tô gây va chạm với xe mô tô do chị Nguyễn Thị T4 điều khiển, nhưng bị cáo không chấp hành mà lại có các hành vi chống đối, xúc phạm, dùng chân đạp vào cánh cửa xe ô tô chuyên dụng của lực lượng cảnh sát giao thông, dùng miệng cắn vào cẳng tay trái đồng chí cảnh sát giao thông đang làm nhiệm vụ. Bị cáo nhận thức rõ hành vi dùng vũ lực cản trở người thi hành công vụ là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến hoạt động bình thường, đúng đắn của cơ quan Nhà nước, làm giảm hiệu lực quản lý của cơ quan Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Duy Đ phạm tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt:
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo với lý do: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, thuộc hộ cận nghèo, có con nhỏ mắc bệnh hiểm nghèo, bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng. Hội đồng xét xử nhận thấy: tại Điều 65 Bộ luật Tố tụng hình sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có quyền đề nghị mức hình phạt cho bị cáo, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn thuộc hộ cận nghèo, thuộc diện hộ cận nghèo, bị cáo có một con mắc hiểm nghèo, nhưng các tình tiết này không được coi là tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn tại Công văn giải đáp số 212/TANDTC-PC, ngày 13 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
Tại Bản án số 11/2023/HSST ngày 20/02/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng, bị cáo bị kết án và bị xử phạt 01 năm tù về tội “Vi phạm quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên”, ngày 04/11/2023 chấp hành xong hình phạt tù, tính đến ngày 24/8/2024 bị cáo chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội “Chống người thi hành công vụ” với lỗi cố ý, thuộc trường hợp “tái phạm” nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Nhân thân bị cáo xấu, nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính và xét xử về hành vi vi phạm pháp luật nhưng không lấy làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo để áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Bị cáo không thuộc trường hợp bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Đồng chí Hà Trọng M1 và Phòng C – Công an tỉnh H không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5]. Đối với hành vi bị cáo Đ điều khiển xe ô tô va chạm với xe mô tô do chị Nguyễn Thị T4 điều khiển, gây ra tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị T4 là 14%, Phòng C Công an tỉnh H đã chuyển hồ sơ đến Ủy ban nhân dân tỉnh H để đề nghị ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền.
[6]. Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định, tuy nhiên bị cáo là cá nhân thuộc hộ cận nghèo nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đ, số tiền được miễn là 200.000₫.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 330; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
Xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Duy Đ phạm tội “Chống người thi hành công vụ”.
2. Xử phạt: bị cáo Trần Duy Đ 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26/8/2024.
3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Trần Duy Đ.
4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương Lý |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (chống người thi hành công vụ)
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chống người thi hành công vụ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 08 tháng tù.
