Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM NÔNG

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày: 27 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phùng Thị Kim Nguyên.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Khởi
  • 2. Ông Hán Thanh Nhân

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thúy Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên tòa: Ông Bùi Xuân Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 27/9/2024, tại trụ Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2024/TLST-HS ngày 18/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2024/QĐXXST-HS ngày 18/9/2024.

Đối với bị cáo: Bùi Gia Q;Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 05/7/2004 tại huyện T, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú: khu E, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Bùi Văn L, sinh năm 1973; Mẹ đẻ: Phùng Thị T, sinh năm 1971; Vợ, Con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (Có mặt).

Người bị hại:

Anh Chu Văn H, sinh năm 1992;

Nơi cư trú: Khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ (đã chết).

Đại diện gia đình bị hại:

Chị Chu Thiện H1, sinh năm 1990;

Nơi cư trú: Xóm V, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội (có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Anh Bùi Gia L1, sinh năm 1998;

Nơi cư trú: Khu E, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 32 phút ngày 30/3/2024, tại đường L thuộc khu A, thị trấn H, huyện T, tỉnh Phú Thọ xảy ra vụ tai nạn giao thông giữa xe môtô biển kiểm soát 19N1-210.85 do Bùi Gia Q, sinh năm 2004, trú tại: khu E, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ điều khiển chở theo cháu Nguyễn Thiện A, sinh năm 2008 và cháu Nguyễn Phương N, sinh năm 2019, đều trú tại: khu C, thị trấn H, huyện T, tỉnh Phú Thọ đi theo hướng khu A, thị trấn H đi khu C, thị trấn H với xe môtô biển kiểm soát 33N6-9038 do anh Chu Văn H, sinh năm 1992, trú tại: khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả: anh Chu Văn H bị thương được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Trung tâm y tế huyện T và Bệnh viện đa khoa tỉnh P, đến 19 giờ 50 phút ngày 31/3/2024 thì tử vong; Bùi Gia Q bị thương phải điều trị tại Trung tâm y tế huyện T đến ngày 06/4/2024 thì ra viện; 02 xe môtô bị hư hỏng.

Sau khi nhận được tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn, trưng cầu giám định pháp y khám nghiệm tử thi, tiến hành xác minh, ghi lời khai của những người làm chứng, người liên quan và thu thập các tài liệu, chứng cứ theo quy định.

Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Chọn chiều khám nghiệm là chiều từ khu A, thị trấn H đi khu C, thị trấn H và mép đường chuẩn là mép đường bên trái theo chiều khám nghiệm, vật chuẩn là trụ cổng bên trái số nhà 18 (hướng nhìn từ ngoài vào) của bà Trần Thị Phương L2, sinh năm 1974, trú tại: Khu A, thị trấn H, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn được trải nhựa áp phan, đường cong cua về bên trái theo chiều khám nghiệm, độ cong 07°, mặt đường bằng phẳng rộng 06m, ở giữa có vạch tim đường màu vàng dạng vạch đơn nét đứt chia đường thành hai phần đường xe chạy ngược chiều nhau. Phần đường bên phải theo chiều khám nghiệm rộng 3,1m, tiếp giáp mép đường bên phải là hộp cống thoát nước rộng 0,62m, tiếp đến là các hộ dân thuộc khu A, thị trấn H. Phần đường bên trái theo chiều khám nghiệm rộng 2,9m, tiếp giáp mép đường bên trái là lề bê tông rộng 0,3m, tiếp đến là vỉa hè rộng 1,83m cao hơn mặt đường 0,2m, tiếp đến là hồ H.

Tại hiện trường phát hiện các dấu vết, phương tiện như sau:

Các dấu vết V1, V2, V3 là các vết cày xước mặt đường màu trắng không liên tục nằm trên phần đường bên trái theo chiều khám nghiệm do xe môtô biển kiểm soát 33N6-9038 bị đổ, cày xước trên mặt đường để lại có chiều cùng chiều khám nghiệm. Điểm đầu các dấu vết V1, V2, V3 cách mép đường chuẩn lần lượt là: 0,66m, 0,93m, 0,94m. Điểm cuối các dấu vết V1, V2, V3 trùng với đầu trục để chân phía trước bên phải, đuôi mặt ngoài bô ống xả, trục để chân phía sau

bên phải của xe môtô biển kiểm soát 33N6-9038 và cách mép đường chuẩn lần lượt là: 0,53m, 1,2m, 0,97m.

Xe môtô biển kiểm soát 33N6-9038 đổ nghiêng về bên phải, đầu xe quay hướng ra hồ H, tâm trục bánh trước của xe nằm trên lề bê tông bên trái chiều khám nghiệm cách mép đường chuẩn là 0,12m, tâm trục bánh sau của xe nằm trên phần đường bên trái theo chiều khám nghiệm cách mép đường chuẩn 1,02m.

Các dấu vết V4, V5, V6, V7 là các vết cày xước mặt đường màu trắng không liên tục nằm trên phần đường bên trái theo chiều khám nghiệm do xe môtô biển kiểm soát 19N1-210.85 bị đổ, cày xước trên mặt đường để lại có chiều cùng chiều khám nghiệm. Điểm đầu các dấu vết V4, V5, V6, V7 cách mép đường chuẩn lần lượt là: 2,16m, 2,01m, 1,66m, 1,81m. Điểm cuối dấu vết V4 cách mép đường chuẩn là 2,18m. Điểm cuối các dấu vết V5, V6, V7 trùng với đầu trục để chân phía trước bên trái, đầu tay nắm lái bên trái, chốt gương chiếu hậu bên trái của xe môtô biển kiểm soát 19N1-210.85 và cách mép đường chuẩn lần lượt là: 2,07m, 1,81m, 1,86m.

Xe môtô biển kiểm soát 19N1-210.85 đổ nghiêng về bên trái, đầu xe chếch chéo về hướng đi khu C, thị trấn H và các hộ dân thuộc khu A, thị trấn H, tâm trục bánh trước và tâm trục bánh sau của xe nằm trên phần đường bên trái theo chiều khám nghiệm cách mép đường chuẩn lần lượt là: 2,68m và 1,53m.

Dấu vết V8 là vùng chất dịch màu nâu đỏ có kích thước (0,31x0,15)m nằm trên phần đường bên trái theo chiều khám nghiệm, có tâm cách mép đường chuẩn là 1,43m. Ngoài ra, tại hiện trường phát hiện vùng mảnh nhựa vỡ, mũ bảo hiểm, dép nằm rải rác dọc theo các dấu vết và phương tiện trên.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

Toàn bộ các dấu vết do hai xe môtô bị đổ, cày xước trên mặt đường và hai phương tiện đều nằm trên mặt đường ở phần đường bên trái theo chiều đường khám nghiệm.

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

Xe môtô Honda Wave, màu trắng đen bạc, biển kiểm soát 19N1-210.85: Phần đầu xe: Cụm đèn, mặt nạ phía trước bị vỡ, bật rời khỏi xe; Chắn bùn phía trước mặt bên trái bị nứt trên bề mặt bám dính chất màu đen; Càng giảm xóc bánh trước bên trái bề mặt phía ngoài có vết quyệt trượt bám dính chất màu đen kích thước (25x04)cm chiều từ trước về sau, trên bề mặt phía ngoài càng giảm xóc trên vị trí cách mặt đất 28cm có vết cày xước kim loại kích thước (07x02x0,02)cm chiều từ trước về sau; Vành bánh trước có vết đẩy cong từ ngoài vào trong kích thước (30x07)cm. Phần sườn xe bên trái: Cánh yếm trái có diện mài xước, vỡ nhựa bám dính chất màu đen kích thước (62x14)cm; Đầu trục để chân phía trước bên trái bị đẩy cong từ trước về sau lệch 05° và bị rách cao su hở lõi kim loại bị mài mòn.

Xe môtô Yamaha, màu xám bạc, biển kiểm soát 33N6-9038: Phần đầu xe: Cụm đèn phía trước bị vỡ, bật rời khỏi xe; Chắn bùn phía trước mặt bên trái bị nứt vỡ trên bề mặt bám dính chất màu đen; Càng giảm xóc bánh trước bên trái

bề mặt phía ngoài có vết quyệt trượt bám dính chất màu đen kích thước (25x04)cm chiều từ trước về sau, phía trước đầu ốc định vị càng giảm xóc bánh trước bên trái với mai ơ có vết mài mòn kim loại kích thước (02x0,5)cm vị trí vết cách mặt đất 28cm; Má lốp bên trái có vết quyệt trượt bám dính chất màu trắng kích thước (20x05)cm chiều từ ngoài vào tâm trục. Phần sườn xe bên trái: Cánh yếm trái bị vỡ bật rời khỏi xe; Đầu trục để chân phía trước bên trái bị đẩy cong từ trước về sau, từ dưới lên trên lệch 05°; Cần số phía trước bị đẩy cong từ trước về sau.

Kết quả khám nghiệm phương tiện xác định:

Bánh xe phía trước, càng giảm xóc bánh xe phía trước bên trái và sườn xe bên trái của xe môtô biển kiểm soát 19N1-210.85 va chạm với bánh xe phía trước, càng giảm xóc bánh xe phía trước bên trái và sườn xe bên trái của xe môtô biển kiểm soát 33N6-9038 là phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường và các tài liệu chứng cứ thu thập được.

Kết quả khám nghiệm tử thi:

Tại Bản kết luận giám định tử thi số 524/KLGĐTT-PC09 ngày 15/4/2024, của Phòng K Công an tỉnh P kết luận: Nguyên nhân chết của anh Chu Văn H là do chấn thương sọ não.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và chất ma túy xác định:

Bùi Gia Q và anh Chu Văn H đều không có nồng độ cồn và chất ma túy.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã yêu cầu định giá tài sản đối với hai xe môtô bị hư hỏng do tai nạn giao thông ngày 30/3/2024. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 11 ngày 22/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận: Giá trị thiệt hại của xe môtô biển kiểm soát 19N1-210.85 là 1.360.000 đồng; Giá trị thiệt hại của xe môtô biển kiểm soát 33N6-9038 là 1.115.000 đồng.

Kết quả điều tra, xác minh xác định:

Bùi Gia Q chưa có giấy phép lái xe môtô, anh Chu Văn H đã có giấy phép lái xe môtô theo quy định.

Tại Cơ quan điều tra, Bùi Gia Q đã khai nhận:

Khoảng hơn 17 giờ ngày 30/3/2024, Bùi Gia Q tự ý lấy xe môtô biển kiểm soát 19N1-210.85 của anh trai mình là Bùi Gia L1, sinh năm 1998 ở cùng nhà đang dựng ở sân và vẫn cắm chìa khóa, Q điều khiển xe đi từ nhà để đi chơi. Sau đó Q rủ và chở theo cháu Nguyễn Thiện A, sinh năm 2008 và cháu Nguyễn Phương N, sinh năm 2019, đều trú tại: khu C, thị trấn H, huyện T, tỉnh Phú Thọ đi chơi uống nước ở khu vực bờ hồ thị trấn H. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày thì Q điều khiển xe chở A và N (cả ba đều không đội mũ bảo hiểm) đi về nhà theo đường liên khu hướng từ khu A, thị trấn H đi khu C, thị trấn H, khi đi đến đoạn đường cong cua về bên trái theo hướng đi của mình thuộc khu A, thị trấn H thì Q điều khiển xe đi lấn sang khoảng giữa phần đường bên trái theo chiều đi để bám cua với vận tốc khoảng 50km/h. Cùng lúc này, bên phần đường bên trái theo chiều Q đi có xe môtô biển kiểm soát 33N6-9038 do anh Chu Văn H điều khiển đi một mình hướng ngược lại. Khi phát hiện xe môtô do anh H điều khiển, Q không kịp xử lý gì nên phần bánh xe phía trước, càng giảm xóc

bánh xe phía trước bên trái và sườn xe bên trái xe của Q điều khiển va chạm với bánh xe phía trước, càng giảm xóc bánh xe phía trước bên trái và sườn xe bên trái xe của anh H điều khiển, khiến cho hai phương tiện và người ngồi trên xe bị đổ ngã xuống đường. Hậu quả: anh H bị thương được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Trung tâm y tế huyện T và Bệnh viện đa khoa tỉnh P, đến 19 giờ 50 phút ngày 31/3/2024 thì tử vong; Q bị thương phải điều trị tại Trung tâm y tế huyện T đến ngày 06/4/2024 thì ra viện; 02 xe mô tô bị hư hỏng, hai cháu A và N không bị thương tích gì đã tự đi về nhà của mình.

Về phương tiện:

Quá trình điều tra xác định: Xe môtô biển kiểm soát 19N1-210.85 là của anh Bùi Gia L1 (anh trai của Bùi Gia Q), Q tự ý lấy xe đi anh L1 không biết, anh L1 đề nghị tự khắc phục sửa chữa xe môtô bị hư hỏng không yêu cầu Q phải hỗ trợ bồi thường gì; Xe môtô biển kiểm soát 33N6-9038 là của chị Chu Thiện H1, sinh năm 1990, trú tại: xóm V, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội (là chị gái anh Chu Văn H), chị H1 cho anh H mượn xe để sử dụng. Các phương tiện đều có đầy đủ giấy tờ theo quy định, không nằm trong hệ thống vật chứng của các vụ án, Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý và tiến hành trao trả các phương tiện cho anh Bùi Gia L1 và chị Chu Thiện H1 là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về dân sự:

Quá trình điều tra, Bùi Gia Q và gia đình đã bồi thường, hỗ trợ cho gia đình anh Chu Văn H tổng số tiền 120.000.000 đồng để mai táng và sửa chữa xe môtô bị hư hỏng, đại diện gia đình anh H là chị Chu Thiện H1 đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu Q phải bồi thường, hỗ trợ gì thêm, đồng thời có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho Q. Cháu Nguyễn Thiện A và cháu Nguyễn Phương N không bị thương tích nên không có yêu cầu đề nghị gì.

Tại Bản Cáo trạng số 30/CT-VKSTN ngày 18/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo: Bùi Gia Q về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà: Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Gia Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng điểm a, khoản 2, Điều 260; điểm b, s, khoản 1 và khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt đối với Bùi Gia Q: 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án

có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của người được hưởng án treo thì giải quyết theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Hình phạt bổ sung:

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, b khoản 3, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Xác nhận các biên bản trả lại vật chứng, tài sản lưu trong hồ sơ là hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự;

Xác nhận bị cáo Bùi Gia Q và gia đình đã bồi thường, hỗ trợ cho gia đình anh Chu Văn H tổng số tiền 120.000.000 đồng để mai táng và sửa chữa xe môtô bị hư hỏng, đại diện gia đình anh H là chị Chu Thiện H1 đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu Q phải bồi thường, hỗ trợ gì thêm.

Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Trong quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử nhận định các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên là phù hợp.

[2] Về những chứng cứ xác định bị cáo có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, thời gian, địa điểm xảy ra tai nạn, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm phương tiện, kết quả khám nghiệm tử thi cũng như các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 21 giờ 32 phút ngày 30/3/2024, tại đường L thuộc khu A, thị trấn H, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Bùi Gia Q, sinh năm 2004, trú tại: khu E, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ điều khiển xe môtô biển kiểm soát 19N1-210.85

vi phạm các quy tắc khi tham gia giao thông đường bộ như: Điều khiển xe môtô không đi đúng làn đường, phần đường bên phải theo chiều đi của mình; Không có giấy phép lái xe theo quy định; Không đội mũ bảo hiểm, nên đã gây tai nạn giao thông đâm vào xe môtô biển kiểm soát 33N6-9038 do anh Chu Văn H, sinh năm 1992, trú tại: khu A, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ điều khiển dẫn đến hậu quả anh H ngã ra đường bị thương và sau đó tử vong, xe môtô bị hư hỏng.

Hành vi của Bùi Gia Q đã vi phạm các quy định tại khoản 1, Điều 9; khoản 9, Điều 8 và khoản 2, Điều 30 của Luật Giao thông đường bộ. Cụ thể:

Điều 9. Quy tắc chung

“1. Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.”

Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm

“………9. Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định..."

Điều 30. Người điều khiển, người ngồi trên xe môtô, xe gắn máy

“...2. Người điều khiển, người ngồi trên xe môtô hai bánh, xe môtô ba bánh, xe gắn máy phải đội mũ bảo hiểm có cài quai đúng quy cách....”

Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Gia Q đã phạm vào tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Điểm a, khoản 2, Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000đồng đến 100.000.000đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

  • Làm chết người;

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

  • Không có giấy phép lái xe theo quy định; ...”

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo.

Hành vi phạm tội của bị cáo Bùi Gia Q là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm các quy định về giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Xâm phạm đến hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, tính mạng, tài sản của công dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi vô ý. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo.

Bị cáo có nhân thân tốt, khi phạm tội không có tiền án, tiền sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào; Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, người phạm tội thành khẩn khai báo. Do vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra đại diện gia đình bị hại có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, khi quyết định hình phạt không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà để bị cáo cải tạo tại gia đình và xã hội thể hiện sự khoan hồng của pháp luật cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh tại Cơ quan điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa. Bùi Gia Q hiện đang ở cùng gia đình, không có tài sản riêng gì có giá trị, thu nhập trung bình hàng tháng khoảng 2.000.000 đồng. Nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Bùi Gia Q đã bồi thường cho gia đình anh Chu Văn H số tiền 120.000.000đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng) để mai táng và sửa chữa xe môtô bị hư hỏng, đại diện gia đình anh H là chị Chu Thiện H1 đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu khoản tiền nào khác, cam kết không thắc mắc, khiếu kiện gì về sau đồng thời có đơn đề nghị xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Q. Cháu Nguyễn Thiện A và cháu Nguyễn Phương N không bị thương tích nên không có yêu cầu đề nghị gì. Hội đồng xét xử không đặt ra trách nhiệm đối với bị cáo nữa là phù hợp.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe môtô biển kiểm soát 19N1-210.85 là của anh Bùi Gia L1 (anh trai của Bùi Gia Q), Q tự ý lấy xe đi anh L1 không biết, anh L1 đề nghị tự khắc phục sửa chữa xe môtô bị hư hỏng không yêu cầu Q phải hỗ trợ bồi thường gì; Xe môtô biển kiểm soát 33N6-9038 là của chị Chu Thiện H1, sinh năm 1990, trú tại: xóm V, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội (là chị gái anh Chu Văn H), chị H1 cho anh H mượn xe để sử dụng. Các phương tiện đều có đầy đủ giấy tờ theo quy định, không nằm trong hệ thống vật chứng của các vụ án, Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý và tiến hành trao trả các phương tiện cho anh Bùi Gia L1 và chị Chu Thiện H1 là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, cần xác nhận việc trả lại tài sản trên là hợp pháp.

Đối với anh Bùi Gia L1 (anh trai của Bùi Gia Q) là chủ sở hữu chiếc xe môtô biển kiểm soát 19N1-210.85, Q tự ý lấy chiếc xe trên để đi chơi anh L1 không biết, vì vậy Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh Bùi Gia L1 là phù hợp với quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề xuất về hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 260 của Bộ luật Hình sự:

1. Tuyên bố:

Bị cáo Bùi Gia Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ: Điểm a, khoản 2, Điều 260; Điểm b, s, khoản 1 và khoản 2, Điều 51; khoản 1,2,5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Gia Q là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Bùi Gia Q cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc của bị cáo thì giải quyết theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Bùi Gia Q cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù đã cho hưởng án treo.

Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự:

Xác nhận bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần cho gia đình bị hại (chị Chu Thiện H1 là chị anh H, đại diện gia đình) số tiền 120.000.000đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng). Chị H1 đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu, đề nghị gì thêm.

3. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm a, b khoản 3, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả các phương tiện và giấy tờ cho các chủ sở hữu là hợp pháp.

(Theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 05/8/2024).

4. Về án phí:

Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí 2015; điểm a, khoản 1, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án dân sự, nếu không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7a, Điều 9 Luật thi hành án dân sự.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND H.Tam Nông, tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an H.Tam Nông, tỉnh Phú Thọ;
  • - THAHS, DS H. Tam Nông, tỉnh Phú Thọ;
  • - UBND xã Thọ Văn, H.Tam Nông;
  • - Sở tư pháp tỉnh Phú Thọ;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người có QL và NV liên quan;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Phùng Thị Kim Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Gia Quân phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger