|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày 26-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Phước.
2. Ông Nguyễn Văn Lương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Chiến, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh M - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 26/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 02/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 04/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Phan Đình T (tên gọi khác: Không); giới tính: Nam; sinh ngày 22/9/1988 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; số CCCD: [...]; nơi thường trú: Số G L, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; chỗ ở hiện nay: Số C L, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 11/12; con ông Phan Đình S, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1967; có vợ là Lê Thị Kim T1, sinh năm 1988 (đã ly hôn); con: có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2012. Gia đình có 02 anh em ruột, bị cáo là con đầu; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 13/3/2024 cho đến nay (có mặt tại phiên tòa).
- Họ và tên: Lê Hoàng Q (tên gọi khác: Không); giới tính: Nam; sinh ngày 19/6/1973 tại tỉnh Quảng Trị; số CCCD: [...]; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; con ông Lê S1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N (đã chết); có vợ là Cao Thị Mỹ D, sinh năm 1979; con: có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất sinh năm 2004. Gia đình có 06 anh em ruột, bị cáo là con thứ 02; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 13/3/2024 cho đến nay (có mặt tại phiên tòa).
Nhân thân: Sinh ra lớn lên tại xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị, đi học đến lớp 12/12 thì nghỉ học sau đó làm nghề lái xe. Ngày 21/9/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam xử phạt 18 tháng tù giam về tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Ngày 30/8/2011 chấp hành xong bản án trở về địa phương sinh sống.
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Hoàng Q: Ông Võ Cao T2, Luật sư Công ty TNHH T4 thuộc đoàn luật sư tỉnh Đ (Có mặt).
- Bị hại:
- Anh Cụt Văn S2, sinh năm 2004 (đã chết).
- Chị Cụt Thị P, sinh năm 2007 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của anh Cụt Văn S2: Ông Cụt Phò B, sinh năm 1982 và bà C1 Mẹ B, sinh năm 1982; cùng địa chỉ: Bản K, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp chị Cụt Thị P: Ông Cụt Văn K, sinh năm 1987 và bà Xeo Thị P1, sinh năm 1988; cùng địa chỉ: Bản P, xã P, huyện K, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Công ty Trách nhiệm hữu hạn T5; địa chỉ trụ sở: B L, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; người đại diện theo pháp luật: Ông Cao Xuân S3; chức vụ: Giám đốc (có đơn xin vắng mặt).
- + Ông Nguyễn Bá D1, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (có đơn xin vắng mặt).
- + Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1982; địa chỉ: Khóm C, thị trấn D, huyện H, tỉnh Quảng Trị (có đơn xin vắng mặt).
- + Ông Phan Đình S, sinh năm 1965; địa chỉ: Số G đường L, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).
- + Anh Lin Văn K1, sinh năm 2001; địa chỉ: Bản H, xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
- + Chị Lương Thị B1, sinh năm 2001; địa chỉ: Bản H, xã M, huyện K, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
- + Anh Cụt Văn X, sinh năm 1997; địa chỉ: Bản K, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
- + Anh Cụt Văn X, sinh năm 1992; địa chỉ: Bản K, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
- + Anh Cụt Văn H1, sinh năm 1999; địa chỉ: Bản K, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
- + Chị Lương Thị K2, sinh năm 2000; địa chỉ: Bản H, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
- + Cháu Cụt Văn N1, sinh năm 2023; địa chỉ: Bản K, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
- + Cụt Thị P2, sinh năm 1997; địa chỉ: Bản H, xã B, huyện K, tỉnh Nghệ An (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của cháu N1: Anh Cụt Văn H1, sinh năm 1999 và chị Lương Thị K2, sinh năm 2000 - là cha, mẹ đẻ của cháu N1 (vắng mặt).
- Người làm chứng:
- Anh Hoàng Đức V, sinh năm 1983; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (vắng mặt).
- Anh Nguyễn Văn T3, sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm F, xã P, huyện N, tỉnh Nghệ An (vắng mặt).
- Anh Lô Văn H2, sinh năm1987; địa chỉ: Bản X, xã L, huyện C, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện nay: Bon R, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 00 ngày 10/03/2024, Phan Đình T lái xe ô tô tải biển số 75C-016.91 vận chuyển hàng lưu thông trên đường C - L theo hướng từ Quảng Trị - Đà Nẵng. Đến khoảng 19 giờ 32 phút cùng ngày, khi xe ôtô đến đoạn Km58 cao tốc C - L (đoạn qua thôn S, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế). T điều khiển xe ô tô lưu thông trên làn đường rộng 3,7m, lúc này trời có mưa phùn nên mặt đường trơn ướt, T nghe tiếng nổ lốp xe nên điều khiển xe chạy một đoạn khoảng 03 mét thì dừng lại trên làn đường dành cho xe lưu thông. Sau khi dừng xe, T bật đèn cảnh báo nguy hiểm rồi tắt máy, xuống xe kiểm tra, phát hiện lốp trước thứ 2 bên phải (từ trước ra sau) bị nổ. Mặc dù xe của T vẫn điều khiển bình thường nhưng T không điều khiển xe chuyển sang đậu sát mép đường phía bên phải của làn đường dành cho xe dừng khẩn cấp mà đỗ xe chiếm một phần đường trên làn đường xe lưu thông. Sau đó, T lấy ướm la răng có sẵn trên xe ra đặt phía sau xe cách đuôi xe khoảng 10 mét để cảnh báo rồi lấy điện thoại gọi cho người vá lốp lưu động đến để vá lốp. Sau đó T đi bộ tới cabin xe lấy chai nước rồi đi ra trước đầu xe đứng cạnh hàng rào hộ lan uống nước chờ cứu hộ đến vá lốp.
Đến khoảng 19 giờ 40 ngày 10/03/2024, Lê Hoàng Q điều khiển xe ôtô khách biển kiểm soát 51B-261.49 chở khách lưu thông trên trên cao tốc C - L theo hướng Quảng Trị - Đà Nẵng trên xe ôtô có 54 người. Khi đến trước đoạn đường K cao tốc C - L, do thiếu chú ý quan sát nên khi phát hiện chướng ngại vật là xe ôtô tải biển số 75C-016.91 đang đỗ trên đường, Q đã không dừng lại được mà đánh lái sang làn đường bên trái để tránh xe tải. Do khoảng cách quá gần nên Q đã để phần hông bên phải phía đuôi xe ôtô khách va chạm vào phần góc sau bên trái thùng xe ôtô tải làm xe ôtô khách bị bung phần sau đuôi bên phải dẫn đến một số người và hành lý phía sau xe văng ra khỏi xe. Xe ôtô khách tiếp tục bị chao xe từ trái sang phải và chạy thêm một đoạn khoảng 300 mét về phía trước thì dừng lại gần hàng rào hộ lan bên phải đường cao tốc theo hướng Quảng Trị - Đà Nẵng.
Hậu quả: Anh Cụt Văn S2, chị Cụt Thị P là hành khách ngồi trên xe ô tô khách biển kiểm soát 51B-261.49 bị văng ra khỏi xe và chết tại hiện trường và 08 hành khách trên xe gồm anh Lin Văn K1, chị Lương Thị B1, anh Cụt Văn X (sinh năm 1997), anh Cụt Văn X(sinh năm 1992), anh Cụt Văn H1, chị Lương Thị K2, cháu Cụt Văn N1 (sinh năm 2023), chị Cụt Thị P2 bị thương được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện. Xe ôtô khách biển kiểm soát 51B - 261.49 và xe ôtô tải biển kiểm soát 75C - 016.91 bị hư hỏng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường của vụ tai nạn xác định:
Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn thuộc km 58 cao tốc C - L, là đoạn đường thẳng không bị che khuất tầm nhìn, không có hệ thống chiếu sáng vào ban đêm, hai bên đường có tường hộ lan cố định bằng kim loại. Làn đường 2 chiều, mặt đường được thảm nhựa bằng phẳng, rộng 11,6m, có vạch kẻ đường đứt khúc màu vàng ở giữa chia mặt đường thành 2 phần đường xe chạy ngược chiều nhau, mỗi phần đường rộng 5,8m; phần đường xe chạy hướng Quảng Trị - Đà Nẵng có vạch kẻ đường liền nét màu trắng chia phần đường thành 02 làn đường, một làn rộng 3,7m dành cho xe lưu thông và một làn rộng 2,1m dành cho xe dừng khẩn cấp khi gặp sự cố; Lấy cột Km58m làm mốc, mép lề đường bên phải làm mép đường chuẩn, hướng khám nghiệm Quảng Trị - Đà Nẵng.
Dấu vết để lại tại hiện trường vụ tai nạn:
- - Xe ô tô 75C-016.91 sau tai nạn nằm trên làn đường bên phải, đầu xe hướng Đà Nẵng đuôi xe hướng ngược lại, má lốp xe sau cùng bên phải cách cột mốc Km58m về hướng Quảng Trị 59m, cách lề chuẩn 1,6m, má lốp xe sau cùng bên trái cách lề chuẩn 4,15m, má lốp xe đầu tiên bên phải cách lề chuẩn 1,82m, má lốp xe đầu tiên bên trái cách lề chuẩn 4,2m (vị trí số 1); Trên mặt đường, phía dưới gầm xe ô tô tải phát hiện 01 lốp xe nằm độc lập, tâm cách lề chuẩn 2,96m và cách mép sau thùng xe 1,45m. Trên mặt đường, phía dưới góc thùng xe bên phải phát hiện 01 vũng rơi vãi hạt nến chất đốt kích thước (1,1x1,1)m, tâm cách lề chuẩn 1,42m. Trên mặt đường bên phải, cách đuôi xe ô tô tải 9,7m về hướng Quảng Trị và cách lề chuẩn 4,3m là vị trí lót vành cao su màu đen hình tròn, có đường kính 0,46m, cao 0,2m;
- - Nằm trên phần đường bên phải sát thành xe ô tô tải có 01 vũng vỡ hỗn hợp kích thước (7,5x4)m gồm nhiều mảnh kính và nhựa... điểm gần nhất cách lề chuẩn 2,06m, điểm xa nhất cách lề chuẩn 5,58m, điểm gần nhất cách đuôi xe 0,7m, (vị trí số 2)
- - Nằm trên phần đường bên trái (phần đường xe chạy hướng Đà Nẵng - Quảng Trị), cách trục lốp trước đầu tiên bên trái xe mô tô 75C-016.91 về hướng Đà Nẵng 10m và cách lề chuẩn 11,1m là đầu tử thi Cụt Thị P, chân phải cách lề chuẩn 10,8m (vị trí số 3).
- - Nằm trên phần đường bên trái (phần đường xe chạy hướng Đà Nẵng - Quảng Trị), cách chân phải tử thi Cụt Thị P về hướng Đà Nẵng 8,5m và cách lề chuẩn 10,9m là chân trái tử thi Cụt Văn S2, đầu tử thi cách lề chuẩn 11,3m (vị trí số 4).
- - Sau tai nạn xe ô tô khách BKS: 51B-261.49 dừng trên làn đường bên phải, đầu xe hướng Đà Nẵng đuôi xe hướng ngược lại, má ngoài lốp xe cuối cùng bên phải cách má ngoài lốp xe cuối cùng bên trái xe ô tô tải về hướng Đà Nẵng 272m, cách lề chuẩn 1,1m, má ngoài lốp xe cuối cùng bên trái cách lề chuẩn 3,5m; má ngoài lốp xe đầu tiên bên phải cách lề chuẩn 1m, má ngoài lốp xe đầu tiên bên trái cách lề chuẩn 3,4m (vị trí số 5).
Kết quả khám nghiệm các phương tiện liên quan đến tai nạn như sau:
- - Xe ô tô tải biển kiểm soát 75C-016.91: Bề mặt cản sau bên trái có dấu vết cà xước bong tróc sơn và bám dính chất màu đỏ trên diện (0,06m x 0,03m), điểm thấp nhất cách mặt đất 0,72m. Cụm đèn hậu phía sau bên trái bị bung vỡ, điểm gần nhất cách thành xe bên trái 0,2m, điểm thấp nhất cách mặt đất 1,05m. Góc dưới bên trái của thùng xe có vết móp lún kim loại bám dính chất màu đỏ và mãnh võ nhựa màu đỏ, mãnh vỡ trên diện (0,3m x 0,3m). Điểm thấp nhất cách mặt đất 1,3m. Cạnh thùng sau bên trái bám dính chất màu đen diện 0,3 x 0,3m điểm thấp nhất cách mặt đất 2,2m. Mặt ngoài phía sau thành xe bên trái có đám vết trầy xước bong tróc sơn cà xước kim loại và bám dính chất màu đỏ trên diện dài 1,75m.
- - Xe ô tô khách biển kiểm soát 51B-261.49: Cụm dấu vết gồm 4 dấu vết cà xước bong tróc sơn chiều hướng từ trước ra sau. Dấu vết trên cùng dài 1,27m, điểm đầu cách đầu xe 7,57m, cách mặt đât 1,02m.Vùng vỡ thân xe đuôi xe bên phải dài 04m, cao 3,35m và kèo dài về sau 1,65m. Trong vùng vỡ này thể hiện dấu vết mài mòn kim loại chiều hướng từ trước ra sau kích thước 2,15m x 0,75m, điểm thấp nhất cách mặt đất 1,2m, điểm cao nhất cách mặt đất 1,6m. Điểm đầu dấu vết cách đuôi xe 3,83m. Vùng vỡ kính thân xe bên phải kích thước (6,6m x 1,4m) điểm thấp nhất cách mặt đất 1,6m, điểm cao nhất cách mặt đất 0,3m.
Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương đã có đủ căn cứ khẳng định điểm va chạm của hai phương tiện trên mặt đường là ở làn đường một chiều bên phải hướng Quảng Trị - Đà Nẵng, cách lề chuẩn chuẩn 4,15m. Điểm va chạm giữa ôtô khách và xe ôtô tải là góc sau bên trái thùng xe tải và phần sau thành xe bên phải xe ôtô khách.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 168/KLGĐTT-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng kỹ thuật công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết của tử thi Cụt Văn S2 do đa chấn thương.
Tại Bản kết luận giám định tử thi số 169/KLGĐTT-KTHS ngày 15/3/2024 của Phòng kỹ thuật công an tỉnh T kết luận nguyên nhân chết của tử thi Cụt Thị P do đa chấn thương.
Tại các Bản kết luận giám định tổn thương cơ thê từ số 242 đến 249-24/KLTgTHS-GĐPY của Trung tâm giám định Y khoa pháp y tỉnh T đã giám định và kết luận thương tích 08 người hành khách trên xe gồm: Anh Lin Văn K1 bị tổn thương cơ thể 01%; chị Lương Thị B1 bị tổn thương cơ thể 04%; anh Cụt Văn X (sinh năm 1997) bị tổn thương cơ thể 01%; anh Cụt Văn X (sinh năm 1992) bị tổn thương cơ thể 26% ; anh Cụt Văn H1 bị tổn thương cơ thể 16%; chị Lương Thị K2 bị tổn thương cơ thể 01%; cháu Cụt Văn N1 bị tổn thương cơ thể 01%; Chị Cụt Thị P2 bị tổn thương cơ thể 02%.
Tại Biên bản kiểm tra nồng độ cồn lúc 21 giờ 17 phút ngày 10/3/2024 đối với Lê Hoàng Q và Biên bản kiểm tra nồng độ cồn vào lúc 21 giờ 31 phút ngày 10/3/2024 đối với Phan Đình T xác định Lê Hoàng Q và Phan Đình T không có nồng độ cồn. Tại Bản kết luận giám định số 565/KL-KTHS ngày 18/3/2024 của Phân viện khoa học hình sự kết luận: Trong mẫu mẫu nước tiểu của Phan Đình T và Lê Hoàng Q không tìm thấy các chất ma tuý và sản phẩm chuyển hoá của các chất ma tuý.
Tại Bản kết luận định giá tài sản thiệt hại Số 14/KL-HĐĐGTS ngày 15/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P xác định: Giá trị tài sản bị thiệt hại của xe ôtô khách biển số 51B-261.49 là: 246.850.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản thiệt hại Số 17/KL-HĐĐGTS ngày 15/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P xác định: Giá trị tài sản bị thiệt hại của xe ôtô tải biển số 75C-016.91 là: 7.246.000 đồng.
Vật chứng thu giữ:
Tạm giữ vật chứng từ Lê Hoàng Q: 01 xe ôtô khách nhãn hiệu THACO biển kiểm soát 51B-261.49; 01 giấy đăng ký xe biển đăng ký 51B-261.49, tên chủ xe Nguyễn Bá H3; 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật xe ôtô 51B-261.49; 01 giấy phép lái xe hạng E, mang tên Lê Hoàng Q; 01 thiết bị giám sát hành trình màu đen hiệu ADSUN được thu ở bên trong đầu xe ôtô 51B-261.49
Tạm giữ vật chứng từ Phan Đình T: 01 xe ôtô tải biển kiểm soát 75C-016.91; 01 giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với xe ôtô tải biển kiểm soát 75C-016.91; 01 giấy phép lái xe hạng C, mang tên Phan Đình T; 01 giấy biên nhận thế chấp số 98 ngày 24/02/2024 giữa Ngân hàng TMCP C2 và Công ty T5 đối với xe ôtô tải biển kiểm soát 75C-016.91; 01 bánh lốp và vành lốp đã xì hết hơi, mặt ngoài lốp có dòng chử: “MAXISUM 958” thu tại lốp đơn thứ 2 phía bên phải xe ôtô 75C-016.91; 01 thiết bị giám sát hành trình màu đen hiệu VIETMAP được thu ở bên trong đầu xe ôtô 75C-016.91.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P đã trả lại tài sản tạm giữ cho những người quản lý hợp pháp. Riêng 01 giấy phép lái xe hạng hạng E mang tên Lê Hoàng Q và 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Phan Đình T cần tiếp tục tạm giữ chuyển theo hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, gia đình bị cáo Phan Đình T cùng với bị cáo Lê Hoàng Q và ông Nguyễn Bá D1 (chủ xe ôtô khách biển 51B-261.49) đã bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Cụt Văn S2 tổng số tiền 159.000.000 đồng; bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại Cụt Thị P tổng số tiền 159.000.000 đồng. Trong đó gia đình Phan Đình T bồi thường 103.000.000 đồng, Lê Hoàng Q và anh Nguyễn Bá D1 bồi thường 215.000.000 đồng. Đại diện hợp pháp của 02 bị hại Cụt Văn S2, Cụt Thị P đã nhận tiền bồi thường và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Phan Đình T, Lê Hoàng Q. Riêng người đại diện hợp pháp của bị hại Cụt Văn S2 yêu cầu bị cáo Phan Đình T, Lê Hoàng Q bồi thường thêm số tiền 60.000.000 đồng.
Đối với 08 người bị thương tích quá trình điều tra đã được bị cáo Lê Hoàng Q và anh Nguyễn Bá D1 bồi thường chi phí điều trị thương tích, không có ý kiến gì. Riêng Anh Cụt Văn X (sinh năm 1997) đề nghị bồi thường thêm 2.000.000 đồng; Anh Cụt Văn X (sinh năm 1992) đề nghị bồi thường thêm 2.000.000 đồng; gia đình anh Cụt Văn H1 và Lương Thị K2 đề nghị bồi thường thêm 5.000.000 đồng; chị Cụt Thị P2 đề nghị bồi thường hổ trợ thêm số tiền 6.000.000 đồng.
Tại Cáo trạng số: 30/CT-VKSPĐ ngày 02/8/-11-2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định truy tố Phan Đình T và Lê Hoàng Q về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Phan Đình T. Đề nghị xử phạt Phan Đình T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 khoản 1 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Lê Hoàng Q. Đề nghị xử phạt Lê Hoàng Q từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Đề nghị trả lại 01 giấy phép lái xe hạng hạng E mang tên Lê Hoàng Q và 01 giấy phép lái xe hạng C mang tên Phan Đình T.
Về trách nhiệm dân sự: xét yêu cầu của đại diện hợp pháp về việc tiếp tục bồi thường chi phí mai táng, tổn thất tinh thần và cấp dưỡng nuôi con (của bị hại là Cụt Văn S2) theo yêu cầu của đại diện hợp pháp ông Cụt Phò B là phù hợp quy định pháp luật.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo Lê Hoàng Q trình bày: Về nguyên nhân gây ra vụ tai nạn này có yếu tố bất ngờ, nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khắc phục bồi thường thiệt hại, khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải. Trình bày lời bào chữa, bị cáo không có ý kiến về hành vi và tội danh, chỉ đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, phù hợp lời khai người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở kết luận:
Vào khoảng 19 giờ 32 phút ngày 10/03/2024, Phan Đình T điều khiển xe ôtô tải chở hàng vượt quá trọng tải, lưu thông trên đường C - L theo hướng Quảng Trị - Đà Nẵng, khi đến đoạn Km58 cao tốc C - L, thuộc địa phận thôn S, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế thì xe bị nổ lốp. T không điều khiển xe chạy sát vào lề đường mà điều khiển xe dừng lại chiếm một phần đường xe chạy rồi bật đèn, đặt ướm la răng để cảnh bảo rồi chờ người đến cứu hộ. Đến 19 giờ 40 cùng ngày, Lê Hoàng Q điều khiển xe ôtô khách biển kiểm soát 51B-261.49 chở khách lưu thông trên trên cao tốc C - L theo hướng Quảng Trị - Đà Nẵng, do thiếu chú ý quan sát nên khi phát hiện chướng ngại vật là xe ôtô tải biển số 75C-016.91 đang đỗ chiếm phần đường lưu thông, Q đã không dừng lại được mà đánh lái sang làn đường bên trái để tránh xe tải. Do khoảng cách quá gần nên Q đã để phần hông bên phải phía đuôi xe ôtô khách va chạm vào phần góc sau bên trái thùng xe ôtô tải làm xe ôtô khách gây tai nạn. Hậu quả làm chết 02 người, bị thương 08 người, tổng thiệt hại về tài sản 254.096.000 đồng.
Như vậy, hành vi của các bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” với tính tiết “Làm chết 02 người “ được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong vụ án này, nguyên nhân gây ra tai nạn lỗi thuộc về Phan Đình T và Lê Hoàng Q, cụ thể:
Phan Đình T điều khiển xe ôtô tải tham gia giao thông trên cao tốc chở hàng vượt quá trọng tải quy định. Khi phát hiện xe bị nổ lốp xe, dù xe vẫn có thể di chuyển được nhưng bị cáo đã không cho xe dừng sát mép đường phía bên phải mà lại đỗ xe ngay trên phần đường dành cho xe lưu thông, chiếm một phần đường xe chạy; không đặt biển báo nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe. Hành vi của Phan Đình T đã vi phạm điểm b, điểm d Khoản 3 Điều 18; Khoản 3 Điều 26 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả làm 02 người chết, 08 người bị thương với tổng tỉ lệ thương tích 52%, thiệt hại về tài sản 246.850.000 đồng đã phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm đ, Khoản 2, Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Lê Hoàng Q điều khiển xe ôtô lưu thông trên đường cao tốc trong điều kiện trời tối, có mưa phùn, đường trơn, có chướng ngại vật là xe ôtô tải đang đỗ chiếm phần đường đã không giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn đã để xe ôtô mình điều khiển va chạm vào xe ôtô tải gây tai nạn. Hành vi của Lê Hoàng Q đã vi phạm Khoản 1, Khoản 11, Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT - BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, gây tai nạn làm 02 người chết, 08 người bị thương với tổng tỉ lệ thương tích 52%, thiệt hại về tài sản 7.246.000 đồng, đã phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, các bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nhưng khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đã chủ quan, xem thường quy định an toàn giao trong việc dừng, đỗ xe khi có sự cố và điều khiển xe trong điều kiện thời tiết xấu, đường trơn đã không quan sát các chướng ngại vật phía trước để giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn. Về nhân thân, đối với Lê Hoàng Q, trước đó Tòa án nhân dân huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam xử phạt 18 tháng tù giam về tội: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Trong vụ án này lỗi trực tiếp gây ra hậu quả rất nghiêm trọng thuộc về bị cáo, nên bị cáo phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T.
Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo khi quyết định hình phạt. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải; các bị cáo và chủ xe đã bồi thường thiệt hại cho người đại diện hợp pháp của bị hại và 08 người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bị thương tích. Phía đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do vậy, các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên áp dụng cho các bị cáo Điều 54 của Bộ luật hình sự để xử mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Mặc dù các bị cáo phạm tội vô ý do chủ quan, nhưng gây ra hậu quả rất nghiêm trọng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ.
Xét ý thức tham gia giao thông của bị cáo Lê Hoàng Q, trước đó đã một lần vi phạm pháp luật nên cần phải áp dụng hình phạt bổ sung cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô 02 năm, sau khi chấp hành xong hình phạt tù.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị hại Cụt Văn S2 đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại với số tiền 159.000.000 đồng.
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết, người đại diện hợp pháp của bị hại Cụt Văn S2 đề nghị các bị cáo bồi thường về chi phí mai táng bị hại, tổn thất tinh thần cho gia đình là 200.000.000 đồng trước đó các bị cáo đã bồi thường số tiền 159.000.000 đồng, nay phải bồi thường thêm số tiền là 41.000.000 đồng và tiền cấp dưỡng nuôi con của anh Cụt Văn S2 là cháu Cụt Tiến L sinh ngày 27/8/2023 mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi cháu L tròn 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu này là có cơ sở căn cứ khoản 1 Điều 584; khoản 1, khoản 3 Điều 585; Điều 587; Điều 591 và điểm a khoản 2 Điều 593 của Bộ luật dân sự.
Trong vụ án này, xác định mức độ lỗi thuộc về Lê Hoàng Q là cao hơn Phan Đình T, nên Q phải bồi thường về chi phí mai tán và tổn thất tinh thần cao hơn, với mức độ lỗi là 60% (41.000.000 đồng X 60%) = 24.600.000 đồng cho đại diện hợp pháp của bị hại là anh Cụt Văn B2 và chị C1 Mẹ B2; Phan Đình T phải bồi thường về chi phí mai tán và tổn thất tinh thần, với mức độ lỗi là 40% (41.000.000 đồng X 40%) = 16.400.000 đồng cho đại diện hợp pháp của bị hại là anh Cụt Văn B2 và chị C1 Mẹ B2. Ngoài ra Lê Hoàng Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu: Cụt Tiến L mỗi tháng là (2.000.000 đồng X 60%) = 1.200.000 đồng kể từ tháng 10/2024 cho đến khi cháu L tròn 18 tuổi; Phan Đình T có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu: Cụt Tiến L mỗi tháng là (2.000.000 đồng X 40%) = 800.000 đồng kể từ tháng 10/2024 cho đến khi cháu L tròn 18 tuổi.
Đối với người đại diện hợp pháp của bị hại chị Cụt Thị P, anh Cụt Văn X (sinh năm 1997), anh Cụt Văn X (sinh năm 1992); đại diện hợp pháp của cháu Cụt Văn N1 là anh Cụt Văn H1 và chị Lương Thị K2; chị Cụt Thị P2 có yêu cầu đề nghị hỗ trợ thêm các chi phí sau tai nạn, nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ. Nếu có căn cứ phát sinh về thiệt hại và có yêu cầu bồi thường thiệt hại thì có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
[4] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại các vật chứng cho chủ sở hữu hợp pháp, không ai có ý kiến gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Cần tiếp tục tạm giữ 01 giấy phép lái xe hạng hạng E, số [...] được Sở Giao thông Vận tải tỉnh Đ cấp ngày 21/3/2021 mang tên Lê Hoàng Q cho đến khi bị cáo chấp hành xong hình phạt bổ sung (Giấy phép lái xe đang được lưu giữ theo hồ sơ vụ án).
Trả lại 01 giấy phép lái xe hạng C, số [...] được Sở Giao thông Vận tải tỉnh T cấp ngày 21/9/2021 mang tên Phan Đình T sau khi bị cáo chấp hành xong hình phạt tù (Giấy phép lái xe đang được lưu giữ theo hồ sơ vụ án).
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23; điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Phan Đình T và Lê Hoàng Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- - Về án phí dân sự sơ thẩm:
Buộc Phan Đình T phải chịu án phí về bồi thường (16.400.000 đồng X 5%) = 820.000 đồng và án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng.
Buộc Lê Hoàng Q phải chịu án phí về bồi thường (24.600.000 đồng X 5%) = 1.320.000 đồng và án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: các bị cáo Phan Đình T và Lê Hoàng Q phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- - Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Áp dụng điểm đ khoản 2, khoản 5 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 584; khoản 1, khoản 3 Điều 585; Điều 587; Điều 591 và điểm a khoản 2 Điều 593 của Bộ luật dân sự.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23; điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Phan Đình T: 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 13-3-2024.
Xử phạt bị cáo Lê Hoàng Q: 02 (hai) năm tù, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 13-3-2024.
Hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Lê Hoàng Q hành nghề lái xe ô tô 02 năm, sau khi chấp hành xong hình phạt tù.
Buộc Lê Hoàng Q tiếp tục bồi thường về chi phí mai tán và tổn thất tinh thần cho anh Cụt Văn B2 và chị C1 Mẹ B2 số tiền 24.600.000 đồng. Tiền cấp dưỡng nuôi cháu Cụt Tiến L mỗi tháng là 1.200.000 đồng kể từ tháng 10/2024 cho đến khi cháu L tròn 18 tuổi.
Buộc Phan Đình T tiếp tục bồi thường về chi phí mai tán và tổn thất tinh thần cho anh Cụt Văn B2 và chị C1 Mẹ B2 số tiền 16.400.000 đồng. Tiền cấp dưỡng nuôi cháu Cụt Tiến L mỗi tháng là 800.000 đồng kể từ tháng 10/2024 cho đến khi cháu L tròn 18 tuổi.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
* Buộc các bị cáo Phan Đình T và Lê Hoàng Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc Phan Đình T phải chịu án phí về bồi thường 820.000 đồng và án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng. Tổng cộng là 1.120.000 đồng (Một triệu một trăm hai mươi nghìn đồng).
* Buộc Lê Hoàng Q phải chịu án phí về bồi thường 1.320.000 đồng và án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng. Tổng cộng là 1.620.000 đồng (Một triệu sáu trăm hai mươi nghìn đồng).
Án xử công khai báo cho các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đạt |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phan Đình T và Lê Hoàng Q phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
