TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc —————————————— |
Bản án số: 35/2024/HS-ST
Ngày: 16-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Nhạ, ông Võ Quốc Linh.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Bính – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Trường Lâm - Kiểm sát viên.
Ngày 16/9/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 01/8/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST- HS ngày 21/8/2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Đình V;
Sinh ngày: 02/7/1983; Nơi sinh và nơi cư trú: xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 04/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Đình V1 và bà Nguyễn Thị L; Có vợ: Trần Thị S; Sinh năm: 1983 và 01 con, sinh năm 2010; Tiền án: 02, cụ thể:
- Ngày 04/11/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 133/2016/HS-ST.
- Ngày 27/11/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông xử phạt 39 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a, c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 63/2018/HSST. Tại Bản án này Nguyễn Đình V đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tiền sự: Không
Nhân thân: 03, cụ thể:
- Ngày 06/10/2010 bị Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 248/2010/HS-ST. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đến ngày 22/12/2010, Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương không chấp nhận kháng cáo tại Bản án số 166/2010/HS-PT.
- Ngày 28/6/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 39/2012/HS-ST. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 20/9/2012, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình không chấp nhận kháng cáo tại Bản án số 127/2012/HS-PT.
- Ngày 07/6/2024, bị Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An xử phạt 36 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo điểm d khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 19/2024/HS-ST. Bản án xác định Nguyễn Đình V “Tái phạm nguy hiểm”; Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam N1, tỉnh Quảng Trị; Có mặt.
2. Hoàng Ngọc H;
Giới tính: Nam; Sinh ngày 27/10/1992; Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Hoàng Ngọc L1 và bà Trần Thị L2; Có vợ: Nguyễn Thị T và 02 con.
Tiền án: 01, cụ thể: Ngày 23/7/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt 05 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 51/2021/HS-ST. Hoàng Ngọc H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đến ngày 26/11/2021 Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An sửa bản án sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 164/2021/HSPT.
Tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 20/6/2024 đến nay; Có mặt.
3. Trần Anh T1;
Giới tính: Nam; Sinh ngày 02/3/1993; Nơi sinh và nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện T, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Con ông Trần Văn S1 và bà Nguyễn Thị L3; Có vợ: Nguyễn Thị L4 và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” kể từ ngày 20/6/2024 đến nay; Có mặt.
- Bị hại:
- Anh Nguyễn Viết H1; Sinh năm: 1995; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt.
- Chị Nguyễn Thị T2; Sinh năm: 1994; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Có mặt.
- Chị Trần Thị H2; Sinh năm: 1988; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt.
- Anh Nguyễn Hồng L5; Sinh năm: 1993; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh; Vắng mặt
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh Trần Bá K; Sinh năm 1989; Nghề nghiệp: Sữa chữa điện thoại; Địa chỉ: Thôn Y, xã V, huyện T, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ ngày 09/8/2023, Nguyễn Đình V đột nhập vào các phòng bệnh điều trị nội trú tại Trung tâm y tế thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh để trộm cắp tài sản. Văn trộm được 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu đen của chị Nguyễn Hồng L5 tại phòng bệnh thuộc Khoa nhi ở tầng 2.
Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, V tiếp tục đi đến Trung tâm y tế huyện C, lên Khoa nhi ở tầng 2, lấy được 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Promax, vỏ màu xanh lá cây, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi, loại Redmi 10 vỏ màu đen và số tiền 2.000.000 đồng của vợ chồng anh Nguyễn Viết H1, chị Trần Thị H2, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57 màu đen của chị Nguyễn Thị T2.
Đến khoảng 05 giờ 20 phút cùng ngày, V đi đến hiệu sửa chữa, mua bán điện thoại di động “Tuấn Lâm” của Trần Anh T1 để bán các điện thoại vừa trộm cắp được. T1 biết các điện thoại là tài sản do V trộm cắp nhưng vẫn đồng ý mua. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày V gọi điện thoại cho T1, hai bên thống nhất giá bán 04 chiếc điện thoại di động trên là 9.000.000 đồng, cụ thể: Điện thoại di động Iphone 11 Promax giá 3.500.000 đồng; Iphone 11 giá 1.800.000 đồng; Oppo A57 giá 2.000.000 đồng; Xiaomi, loại Redmi 10 giá 1.700.000 đồng. T1 đã chuyển khoản cho V 9.000.000 đồng thông qua ứng dụng Mobile Banking.
Sau đó, T1 mở khoá mật khẩu, khôi phục cài đặt gốc trên 02 chiếc điện thoại Xiaomi Redmi 10 và Oppo A57, bán chiếc điện thoại Oppo A57 cho anh Trần Bá K với giá 2.300.000 đồng (K chưa trả tiền), bày bán chiếc điện thoại Xiaomi Redmi 10 tại cửa hàng. Đối với 02 chiếc điện thoại Iphone T1 truy cập mạng xã hội vào các hội nhóm liên hệ “phá” khoá Icloud.
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 09/8/2023, Công an huyện C liên hệ Công an xã P, huyện T để phối hợp xác minh về chiếc Iphone 11 Promax, màu xanh theo định vị tài khoản Icloud. Đồng chí Vi Văn N, Phó trưởng Công an xã P trực tiếp đến cửa hàng điện gặp Trần Anh T1 hỏi: “Sáng giờ có ai bán chiếc điện thoại Iphone 11 promax màu xanh không?”. T1 biết anh N đang hỏi đến chiếc máy điện thoại mà mình vừa mua của V, sợ bị phát hiện xử lý nên T1 nói dối: “Có, nhưng em không mua, họ cầm máy đi rồi”. Sau đó, anh N yêu cầu kiểm tra dữ liệu Camera gắn ở cửa hàng để xác định hình ảnh đối tượng đến liên hệ bán điện thoại thì T1 tiếp tục nói dối với anh N người đó đến bán lúc khoảng 07 giờ sáng ngày 09/8/2023 (thời điểm thực tế V đến bán cho T1 là lúc 05 giờ 20 phút), rồi cho anh N xem ứng dụng Camera. Quá trình kiểm tra dữ liệu Camera, T1 cố tình mở đoạn thời gian không có người cho anh N kiểm tra, sau khi kiểm tra không phát hiện gì thì anh N đi về.
Sau đó, để tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng, T1 xoá nhật ký cuộc gọi, tin nhắn với V, xoá dữ liệu trong thẻ nhớ Camera của cửa hàng. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, Hoàng Ngọc H đến cửa hàng của T1 để dán kính cường lực. Biết Hoàng Ngọc H là bạn của Nguyễn Đình V nên T1 nói với H việc mua 04 chiếc điện thoại từ V và nói thêm: “Có Công an xã đến hỏi điện thoại 11 promax bị định vị, mi cầm điện thoại về đưa cho anh V hay vứt đi cũng được”. Trước đó, Hoàng Ngọc H đã nghe V nói việc lấy trộm và bán điện thoại cho T1 nên H đồng ý. Sau đó, T1 đưa 02 chiếc điện thoại Iphone ra bọc vào giấy thiếc bạc rồi đưa cho H. H mang 02 chiếc điện thoại về nhà, lấy 01 hộp sữa bột đã sử dụng hết cất giấu chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 thường vào trong rồi mang ra để ở mép vườn nhà hàng xóm. Còn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, H bọc thiếc rồi điều khiển xe máy mang đến chân cầu ở gần nhà ném vào bụi chuối ở dưới cầu.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, H gọi điện thoại cho Nguyễn Đình V nói: “Có một cái điện thoại Iphone 11 Promax bị dính định vị, T1 nói trả cho anh mà em đưa đi vứt” thì V trả lời: “Ờ, đưa đi vứt cho anh cái”.
Đến ngày 10/8/2023, khi bị Công an huyện C triệu tập làm việc, Trần Anh T1 khai nhận toàn bộ hành vi, liên hệ Trần Bá K lấy lại chiếc điện thoại di động Oppo A57 để giao nộp cho cơ quan Công an cùng với chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi, loại Remi 10 hiện đang ở cửa hàng của T1. Đến tối ngày 10/8/2023, Nguyễn Đình V gọi điện thoại cho Hoàng Ngọc H để nắm tình hình, thấy H nói T1 đã bị cơ quan Công an triệu tập làm việc thì V nói với H: “Nói T1 đừng khai ra anh” rồi V đi khỏi địa phương nơi cư trú. Đến ngày 11/8/2023, Công an huyện C tiến hành triệu tập làm việc đối với H, quá trình làm việc H khai nhận toàn bộ nội dung, diễn biến việc nhận 02 chiếc điện thoại di động từ T1 mang về cất giấu điện thoại iphone 11 trong vườn nhà và vứt chiếc điện thoại Iphone 11 Promax ở cầu của thôn L. Đồng thời, H tự nguyện đến các vị trí cất giấu và vứt hai chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone để lấy, giao nộp cho cơ quan Công an, phục vụ công tác điều tra
Kết luận định giá tài sản số 13/KL-HĐĐG ngày 11/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C xác định:
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57, vỏ màu đen, đã qua sử dụng của chị Nguyễn Thị T2 trị giá 2.700.000 đồng.
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 10 màu đen, đã qua sử dụng của anh Nguyễn Viết H1 trị giá 2.400.000 đồng.
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, vỏ màu xanh, đã qua sử dụng của chị Trần Thị H2 trị giá 11.000.000 đồng.
- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, vỏ màu đen, đã qua sử dụng của chị Nguyễn Hồng L5 trị giá 7.000.000 đồng.
Tổng trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt của 04 điện thoại di động nói trên là 23.100.000 đồng.
Ngày 17/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ban hành Bản kết luận điều tra số 31 đề nghị Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc truy tố Nguyễn Đình V về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; Trần Anh T1 về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự và Hoàng Ngọc H về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
Ngày 31/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Can Lộc truy tố các bị cáo về tội danh, điều khoản như Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đề nghị tại Cáo trạng số 34/CT-VKS-CL.
Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận thực hiện các hành vi như Cáo trạng truy tố. Bị cáo V không có nguyện vọng nhận lại thẻ Ngân hàng.
Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt Nguyễn Đình V từ 30 đến 36 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 36 tháng tù tại Bản án số 19/2024/HSST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, buộc Nguyễn Đình V phải chấp hành mức án từ 66 đến 72 tháng tù; Xử phạt Hoàng Ngọc H từ 09 đến 12 tháng tù; Xử phạt bị cáo Trần Anh T1 từ 07 đến 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 14-18 tháng; Đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo H và T1 mỗi bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng; Đề nghị tịch thu sung Ngân sách Nhà nước điện thoại di động của T1 và V; Tịch thu tiêu huỷ thẻ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q và thẻ sim điện thoại có số thuê bao 0909.244.000 của Nguyễn Đình V; Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 9.000.000 đồng từ Nguyễn Đình V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp, tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
[2.1] Xét hành vi của các bị cáo:
- Về tội danh:
Nguyễn Đình V lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của các chủ sở hữu là người nhà bệnh nhân đến chăm sóc người thân ở các bệnh viện để lén lút chiếm đoạt 04 điện thoại di dộng trị giá 23.100.000 đồng và 2.000.000 đồng tiền mặt nên phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Trần Anh T1 mặc dù biết 04 chiếc điện thoại trị giá 23.100.000 đồng là tài sản do phạm tội mà có nhưng vì ham rẻ nên đã mua để bán kiếm lời nên phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Hoàng Ngọc H tuy biết nguồn gốc các điện thoại do Nguyễn Đình V phạm tội mà có nhưng để giúp bạn nên H đã thực hiện hành vi cầm, giữ, cất giấu và vứt các điện thoại ở các vị trí khác nhau nhằm tránh sự phát hiện của cơ quan chức năng nên phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Nguyễn Đình V bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Hoàng Ngọc H bị áp dụng tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Văn nhờ anh trai bồi thường cho bị hại Nguyễn Viết H1 2.000.000 đồng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Trần Anh T1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt đối với các bị cáo:
Nguyễn Đình V đã 04 lần phạm tội “Trộm cắp tài sản” trong đó có 02 bản án chưa được xoá án tích nay lại tiếp tục trộm cắp tài sản, thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm nên phải xử phạt bị cáo mức án trên mức khởi điểm. Hoàng Ngọc H tuy tái phạm nhưng không cùng loại tội, không hưởng lợi gì nên xử phạt bị cáo hình phạt tù ở mức khởi điểm là phù hợp. Trần Anh T1 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên xử phạt tù, cho hưởng án treo ở mức khởi điểm là phù hợp.
- Về hình phạt bổ sung:
Hiện nay tài sản đã được thu hồi, trả lại cho các bị hại. Bị cáo H và T1 không hưởng lợi gì từ hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải xử phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[3] Xét hành vi của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Trần Bá K mua chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57, vỏ màu đen từ Nguyễn Đình V nhưng không biết nguồn gốc của chiếc điện thoại di động trên do phạm tội mà có nên không có căn cứ xem xét xử lý đối với Trần Bá K.
[4] Về trách nhiệm dân sự:
Các bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì về dân sự. Anh Nguyễn Bá K1 chưa trả tiền mua điện thoại cho Nguyễn Đình V, không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng, tài sản:
Cần phải tịch thu các điện thoại mà V và T1, tịch thu tiêu huỷ thẻ sim và thẻ ATM như đề nghị của Kiểm sát viên.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình V phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo Hoàng Ngọc H phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”; Bị cáo Trần Anh T1 phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 56 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Đình V 30 tháng tù. Tổng hợp 36 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 19/2024/HSST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, buộc Nguyễn Đình V phải phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 66 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2024.
Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Hoàng Ngọc H 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Anh T1 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao Trần Anh T1 cho UBND xã P, huyện T, tỉnh Nghệ An quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:
- Tịch thu, hoá giá nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu đen, bị khoá Icloud của Trần Anh T1 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo 1902, màu xanh của Nguyễn Đình V.
- Tịch thu, tiêu huỷ 01 thẻ Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q và thẻ sim điện thoại có số thuê bao 0909.244.000 của Nguyễn Đình V;
- Tịch thu 9.000.000 đồng từ Nguyễn Đình V.
- Tình trạng đặc điểm vật chứng có tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 01/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Can Lộc
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án, buộc Nguyễn Đình V, Hoàng Ngọc H và Trần Anh T1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo bản án:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, các bị cáo và bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thanh |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 16/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự về tội trộm cắp tài sản, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản, Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình V phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo Hoàng Ngọc H phạm tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”; Bị cáo Trần Anh T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51 và điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 56 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Đình V 30 tháng tù. Tổng hợp 36 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự tại Bản án số 19/2024/HSST ngày 07/6/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An, buộc Nguyễn Đình V phải phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 66 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/4/2024. Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Hoàng Ngọc H 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Căn cứ khoản 1 Điều 323, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt Trần Anh T 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
