|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM TP HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 35/2024/KDTM-ST
Ngày: 12/9/2024.
Về việc: Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Việt Hùng - Thẩm phán.
Các Hội Thẩm nhân dân: Bà Đào Phương Mai.
Ông Lê Hổ Bình.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Linh Chi - Thư ký.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:
Bà Phan Thị Hạnh Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 12/2024/ TLST-KDTM ngày 02/02/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 34/2024/QĐXXST-KDTM ngày 30/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2024/QĐST-KDTM, ngày 12/8/2024; Quyết định tạm ngừng phiên toà số 08/2024/QÐST-KDTM, ngày 29 tháng 8 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên toà số 13/2024/TB ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa:
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần G (có mặt).
Địa chỉ: Số B, B, Phường Q, quận Đ, Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Công T - Tổng Giám đốc.
Người đại diện uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Ngô Trọng B theo Giấy uỷ quyền số 03/2024/UQ-VNT ngày 03/04/2024.
Bị đơn: Công ty TNHH Đ ( có mặt).
Địa chỉ trụ sở chính: P305, TT36 Phố H, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc L - Giám đốc.
Ngày 04 tháng 5 năm 2024, đăng ký thay đổi lần thứ 7.
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đắc A – giám đốc.
Đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Ngọc L, theo giấy uỷ quyền số 03/2024/UQ ngày 30 tháng 8 năm 2024.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Theo đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Ngô Trọng B trình bày như sau:
Ngày 01/3/2020, Công ty Cổ phần G (Sau đây gọi là Công ty G) và Công ty TNHH Đ (Sau đây gọi là Công ty Đ) ký hợp đồng vận chuyển hàng hoá số 26-2020/VNT-NHAT PHUONG ngày 01/03/2020, cụ thể:
Lô hàng số vận đơn 172-40759913, lô hàng số vận đơn 180-72696794, số vận đơn 160-23680580, số vận đơn 176-14407374 từ Hà Nội, Việt Nam đi C (Đ1, B) và đi C1. Toàn bộ những lô hàng trên đã được chúng tôi vận chuyển và giao hàng đầy đủ, đảm bảo nguyên đai nguyên kiện, không để xảy ra mất mát hay hư hỏng hàng hoá theo tiêu chuẩn vận chuyển hàng hoá quốc tế. Số tiền cước lô hàng này đã được chúng tôi lên hoá đơn số 0023525 mẫu số 01GTKT3/002, ký hiệu VN/17P ngày 30/5/2020, tổng số tiền 4.110.035.908 đồng.
Lô hàng vận đơn 180-72741163; số vận đơn 180-68683985 lô hàng số vận đơn 180-72710805; lô hàng số vận đơn 172-42347594; xuất khẩu từ Hà Nội đi các nước C, M,C1. Toàn bộ những lô hàng này được chúng tôi vận chuyển và giao hàng đầy đủ; đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế (IATA) số tiền cước toàn bộ lô hàng trên đã được chúng tôi lên hóa đơn số 0023612/Mẫu số 01GTK3/002 ký hiệu VN/17P ngày 30/06/2020, số tiền là 2.494.783.099 đồng.
Toàn bộ những lô hàng nói trên với tổng số tiền cước là 6.604.819.007 đồng (Sáu tỷ, sáu trăm linh tư triệu, tám trăm mười chín nghìn, không trăm linh bảy đồng) đã được giao hàng đầy đủ đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn vận tải hàng không theo quy định và luật pháp quốc tế về vận chuyển hàng không (IATA) và khách hàng không có thắc mắc gì về chất lượng và công việc đã hoàn thành, giá cước vận tải và phí dịch vụ.
Công ty Đ đã thanh toán cho Công ty G:
Ngày 01/06/2020 khách hàng đã thanh toán cho chúng tôi số tiền: 304.638.210 đồng (Ba trăm linh tư triệu, sáu trăm ba mươi tám nghìn, hai trăm mười đồng); Ngày 07/09/2020 khách hàng thanh toán cho chúng tôi: 1.000.000.000 đồng (Một tỷ đồng). Tổng hai lần thanh toán: 1.304.638.210 đồng (Một tỷ, ba trăm linh tư triệu, sáu trăm ba tám nghìn, hai trăm mười đồng).
Số tiền còn lại theo hoá đơn bên Công ty Đ còn nợ chúng tôi là 5.300.180.797 đồng (Năm tỷ, ba trăm triệu, một trăm tám mươi nghìn, bảy trăm chín bảy đồng) phía Công ty Đ đã xác nhận, hứa, cam kết thanh toán cho chúng tôi nhiều lần bằng cả lời nói, văn bản nhưng Công ty Đ đã không giữ đúng lời hứa, cam kết trong văn bản cụ thể được thể hiện qua:
Biên bản đối chiếu công nợ các ngày 15/03/2021; ngày 31/03/2021; ngày 05/01/2022; ngày 05/04/2022; ngày 05/07/2022; ngày 30/09/2022, ngày 30/06/2023. Biên bản làm việc giữa Nhật P và đại diện Công ty Cổ phần G ngày 16/03/2021.
Tính đến thời điểm hiện tại số tiền nợ gốc Công ty Đ phải thanh toán cho Công ty G số tiền công vận chuyển chưa thanh toán là 5.300.180.797 đồng.
Theo hợp đồng Công ty Cổ phần G và Công ty TNHH Đ có thoả thuận lãi suất quá hạn thanh toán nợ gốc. Lãi suất quá hạn được tính theo lãi suất quá hạn của ngân hàng TMCP N2 công bố theo quy định tại Điều 2.2 của Hợp đồng.
Trong quá trình ký hợp đồng giữa các bên, Công ty G và Công ty Đ không hề có thoả thuận hay quy định thể hiện là ông Vũ Văn N1 phải thanh toán cho Công ty Đ thì Công ty Đ mới thanh toán trả tiền hàng còn nợ cho Công ty G, việc ký kết hợp đồng vận tải là ký giữa hai bên nguyên đơn và bị đơn, nguyên đơn đã thực hiện xong nghĩa vụ giao hàng theo nội dung hợp đồng vận tải.
Nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết:
Buộc Công ty Đ thanh toán cho Công ty G số tiền nợ tiền cước vận chuyển chậm thanh toán ( nợ gốc) là 5.300.180.797 đồng; Nợ lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn của Ngân hàng TMCP N2 (theo thoả thuận trong hợp đồng) cho đến ngày xét xử sơ thẩm.
Bị đơn - Công ty TNHH Đ, do ông Nguyễn Ngọc L trình bày:
Ngày 28/2/2020, Công ty Đ có ký hợp đồng nhận ủy thác dịch vụ vận chuyển khẩu trang với ông Vũ Văn N1, CMND [...] cấp ngày 02/6/2006, Địa chỉ: Đường C P, S, Hà Nội.
Theo đề nghị ủy thác dịch vụ xuất hàng vận chuyển của ông Vũ Văn N1 với Công ty Đ, Công ty Đ đã ký hợp đồng dịch vụ vận chuyển với Công ty G (VNT). Trong quá trình thực hiện hợp đồng đến ngày 15/03/2021 (kèm theo Biên bản đối chiếu công nợ ngày 15/03/2021).
Việc này Công ty Đ đã đề nghị nhiều lần đến ông Vũ Văn N1 nộp tiền để thanh toán cho bên vận chuyển. Tuy nhiên Công ty Đ cũng thông cảm cho ông Vũ Văn N1 vì có một đơn hàng xuất cho đối tác nước ngoài đã bị từ chối nhận hàng nên ông Vũ Văn N1 có bị thiệt hại.
Công ty Đ xác nhận số tiền còn nợ Công ty G tạm tính đến ngày 05/01/2024 là 6.793.418.443 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 5.300.180.797 đồng; Nợ lãi trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn của Ngân hàng TMCP N2 (theo thoả thuận trong hợp đồng) là 1.493.237.646 đồng, cụ thể: Tính đến ngày 05/01/2024, tiền lãi trên số tiền công nợ 2.805.397.698 đồng tính từ ngày 30/05/2020 đối với hóa đơn số 0023525 là 799.346.193 đồng và số tiền lãi trên số tiền công nợ 2.494.783.099 đồng tính từ ngày 30/06/2020 đối với hóa đơn số 0023612 là 693.891.453 đồng.
Trong đó công ty Đ xác nhận còn tồn tiền vận tải là 5.300.180.797 đồng, (sau khi chốt biên bản đối chiếu công nợ ngày 15/03/2021 thì số nợ gốc là 5.300.180.797 đồng. Sau đó, hai công ty rất nhiều lần đối chiếu công nợ và vẫn thống nhất số tiền nợ gốc còn nợ là 5.300.180.797 đồng).
Thoả thuận hợp đồng giữa Công ty Đ và Công ty G quy định mức lãi suất quá hạn theo lãi suất quá hạn của Ngân hàng V theo quy định tại Điều 2.2 Hợp đồng. Nay Công ty G trình bày thời điểm tính nợ lãi quá hạn kể từ ngày 16/03/2021, Công ty TNHH Đ không có ý kiến và thống nhất.
Công ty Đ cũng nhiều lần liên lạc ông Vũ Văn N1, yêu cầu ông N1 trả tiền cho Công ty Đ để thanh toán cho Công ty G nhưng không có kết quả, Công ty Đ rất muốn dứt điểm vụ án, yêu cầu ông N1 thực hiện nghĩa vụ trả cho Công ty Đ, sau đó Công ty Đ sẽ thanh toán cho Công ty G, số tiền công nợ đã được ba bên là: Ông Vũ Văn N1, công ty Đ, Công ty Cổ phần G xác nhận tại biên bản đối chiếu công nợ vận tải ngày 15/03/2021.
Do ông N1 không thanh toán cho Công ty Đ nên phía công ty chưa thanh toán nợ gốc và lãi quá hạn trên cho Công ty G. Công ty Đ đợi nguồn tiền của ông N1 trả mới có thể thanh toán cho Công ty Đ. Đề nghị Toà án lấy lời khai ông N1, sau khi ông N1 có ý kiến trả cho Công ty Đ thì Công ty Đ mới giải quyết khoản nợ trên với công ty G.
*Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại đơn khởi kiện và bản tự khai, biên bản hoà giải. Về số tiền yêu cầu Công ty Đ trả cho Công ty G tính đến ngày 29/8/2024:
- Số tiền cước vận chuyển chậm thanh toán: 5.300.180.797 đồng.
Số tiền lãi tính theo lãi quá hạn 6,7%/năm của hoá đơn trị giá gia tăng số 0023525 tính từ ngày 15/6/2020 đến ngày 12/9/2024 là 1.197.289.935 đồng.
Số tiền lãi tính theo lãi quá hạn 6,7%/năm của hoá đơn trị giá gia tăng số 0023612 từ ngày 16/7/2020 đến ngày 12/9/2024 là 1.043.431.070 đồng.
Kể từ ngày 13/9/2024 Công ty Đ tiếp tục trả lãi cho số tiền còn chậm thi hành án
* Bị đơn ông L xác nhận tiền cước vận chuyển chậm thanh toán là 5.300.180.797 đồng,khi ông Vũ Văn N1 trả cho Công ty Đ thì Công ty Đ sẽ trả cho Công ty G.
Đối với yêu cầu tính lãi của Công ty G đối với số tiền cước chậm thanh toán mặc dù hai bên đã thoả thuận trong hợp đồng nhưng đề nghị Công ty G giảm cho Công ty Đ vì do ông Vũ Văn N1 chưa trả tiền.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:
Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự, tiến hành hòa giải, thu thập chứng cứ và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn xét xử còn vi phạm theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tiến hành đúng các thủ tục theo quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.
Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án đến khi phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đã chấp hành pháp luật theo các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự 2015. Nguyên đơn nhầm lẫn về địa chỉ đăng ký kinh doanh của bị đơn dẫn đến việc phải sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện sau khi thụ lý vụ án dẫn đến vụ án bị kéo dài. Bị đơn đã thay đổi người đại diện theo pháp luật, ông Nguyễn Văn L1 trực tiếp tham gia tố tụng nhưng khi không còn là người đại diện theo pháp luật cũng không thông báo kịp thời cho Toà án dẫn đến phiên toà ngày 29/8/2024 phải tạm ngừng để xác định người đại diện theo pháp luật tham gia tố tụng.
Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ghi nhận sự thống nhất của bị đơn về số tiền cước vận chuyển chậm thanh toán là 5.300.180.797 đồng; Về số tiền lãi của số tiền chấp nhận theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì đã được qui định tại Điều 2.2 của Hợp đồng vận chuyển. Ngày kế tiếp ngày xét xử sơ thẩm, bị đơn vẫn tiếp tục phải trả lãi theo thoả thuận trong hợp đồng đối với số tiền chậm thanh toán cho đến khi thi hành xong.
Bị đơn phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, sau phần tranh luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thẩm quyền: Tranh chấp trong vụ việc là quan hệ tín dụng với mục đích kinh doanh giữa hai tổ chức đều có đăng ký kinh doanh, căn cứ vào khoản 1 Điều 30 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là tranh chấp về kinh doanh thương mại.
Căn cứ vào Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Trụ sở của bị đơn tại số P, TT36 Phố H, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.
Do vậy, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý và giải quyết vụ án kinh doanh thương mại về “Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hoá” là đúng thẩm quyền.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn đề nghị Toà án tiến hành lấy lời khai của ông Vũ Văn N1 là người giao hàng hoá cho Công ty Đ ký hợp đồng vận chuyển hàng hoá với Công ty G. Toà án đã tiến hành đến địa chỉ cư trú của ông Vũ Văn N1 nhưng không tiến hành lấy lời khai được do ông N1 đã rời khỏi địa phương từ năm 2023 và hiện nay không có thông tin nào khác. Hợp đồng vận chuyển hàng hoá số 26-2020/VNT-NHAT PHUONG ngày 01/03/2020 đã ký kết giữa Công ty Đ và Công ty G không có điều khoản qui định về trách nhiệm của Công ty Đ sẽ trả tiền cho Công ty G khi ông Vũ Văn N1 trả tiền cho Công ty Đ nên ông Vũ Văn N1 không được xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 01/03/2020, Công ty Đ và Công ty G đã ký kết Hợp đồng vận chuyển hàng hoá số 26-2020/VNT-NHAT PHUONG. Hai Công ty đã có các Biên bản đối chiếu công nợ các ngày 15/03/2021; ngày 31/03/2021; ngày 05/01/2022; ngày 05/04/2022; ngày 05/07/2022; ngày 30/09/2022, ngày 30/06/2023. Vì vậy, vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[3.1] Về yêu cầu trả tiền công vận chuyển hàng hoá.
Công ty G khởi kiện yêu cầu Công ty Đ trả tiền công vận chuyển hàng hoá từ hợp đồng vận chuyển hàng hoá số 26-2020/VNT-NHAT PHUONG ngày 01/03/2020 với các số lô hàng chưa thanh toán cước vận chuyển, cụ thể:
Lô hàng số vận đơn 172-40759913, lô hàng số vận đơn 180-72696794, số vận đơn 160-23680580, số vận đơn 176-14407374 từ Hà Nội, Việt Nam đi C (Đ1, B) và đi C1. Số tiền cước lô hàng này đã thể hiện trên hoá đơn số 0023525 mẫu số 01GTKT3/002, ký hiệu VN/17P ngày 30/5/2020, tổng số tiền 4.110.035.908 đồng.
Lô hàng vận đơn 180-72741163; số vận đơn 180-68683985 lô hàng số vận đơn 180-72710805; lô hàng số vận đơn 172-42347594; xuất khẩu từ Hà Nội đi các nước C; M; C1. Số tiền cước toàn bộ lô hàng trên đã thể hiện trên hóa đơn số 0023612/Mẫu số 01GTK3/002 ký hiệu VN/17P ngày 30/06/2020 số tiền là 2.494.783.099 đồng.
Hợp đồng vận chuyển hàng hoá số 26-2020/VNT-NHAT PHUONG ngày 01/03/2020 đã ký kết giữa hai bên có hình thức bằng văn bản, các bên tự nguyện ký kết hợp đồng và đảm bảo về chủ thể ký kết hợp đồng theo quy định của pháp luật. Trong quá trình vận chuyển hàng hoá, các bên không có khiếu nại về việc giao hàng chậm hay hư hỏng. Do vậy hợp đồng vận chuyển hàng hoá đã không vi phạm các điều kiện có hiệu lực theo quy định của Bộ Luật dân sự 2015, Luật Thương mại 2005.
Căn cứ theo biên bản đối chiếu công nợ số 15321/BBCN/VVN-NP-VNT ngày 15 tháng 3 năm 2021 giữa Bên uỷ thác dịch vụ ( ông Vũ Văn N1); Bên nhận uỷ thác dịch vụ ( Công ty Đ); Bên thực hiện dịch vụ vận tải ( Công ty G) xác nhận giá trị của hai hoá đơn trên với tổng số tiền cước là 6.604.819.007 đồng.
Ngày 01/06/2020, Công ty Đ đã thanh toán cho Công ty G số tiền 304.638.210 đồng; Ngày 07/09/2020 Công ty Đ đã thanh toán cho Công ty G số tiền 1.000.000.000 đồng. Tổng hai lần thanh toán là 1.304.638.210 đồng. Theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 15/03/2021 thì số tiền hàng chậm chưa thanh toán ( gọi là nợ ) là 5.300.180.797 đồng. Sau đó, hai công ty rất nhiều lần đối chiếu tại các Biên bản đối chiếu công nợ các ngày 15/03/2021;ngày 31/03/2021; ngày 05/01/2022; ngày 05/04/2022; ngày 05/07/2022; ngày 30/09/2022, ngày 30/06/2023 và vẫn thống nhất số tiền nợ gốc còn nợ là 5.300.180.797 đồng.
Công ty Đ xác nhận dư nợ chưa thanh toán tiền cước vận chuyển cho Công ty G số tiền tính đến ngày 29/8/2024 là 5.300.180.797 đồng.
Công ty Đ đề nghị phải lấy được tiền của ông Vũ Văn N1 ( bên uỷ thác dịch vụ) thì mới trả cho Công ty G. Căn cứ vào hợp đồng vận chuyển hàng hoá số 26-2020/VNT-NHAT PHUONG ngày 01/03/2020 giữa Công Ty Đ và Công ty G; Biên bản đối chiếu công nợ số 15321/BBCN/VVN-NP-VNT ngày 15 tháng 3 năm 2020 giữa Bên uỷ thác dịch vụ ( ông Vũ Văn N1); Bên nhận uỷ thác dịch vụ ( Công ty Đ); Bên thực hiện dịch vụ vận tải ( Công ty G) cũng như các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án thì không có sự thoả thuận về việc Công ty Đ lấy được tiền của ông Vũ Văn N1 ( bên uỷ thác dịch vụ) thì mới trả cho Công ty G. Do đó, không chấp nhận lý do chưa trả tiền cước vận chuyển của Công ty Đ.
Vì vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty G, buộc Công ty Đ phải trả số tiền cước vận chuyển chưa thanh toán cho Công ty G là: 5.300.180.797 đồng.
[3.2] Về yêu cầu trả lãi chậm trả đối với số tiền cước chưa thanh toán.
Căn cứ theo Hợp đồng hợp đồng vận chuyển hàng hoá số 26-2020/VNT-NHAT PHUONG ngày 01/03/2020 giữa Công Ty Đ và Công ty G tại Điều 2.2 Hợp đồng có qui định về tính lãi chậm trả theo lãi suất quá hạn của Ngân hàng TMCP N2 ( gọi tắt là Ngân hàng).
Căn cứ công văn số 12936/VCB-BKTNB ngày 24 tháng 7 năm 2024 của Ngân hàng thì mức lãi suất quá hạn của Ngân hàng được áp dụng theo quy định tại khoản 4, Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN, cụ thể “ Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng với thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn”.
Căn cứ theo công văn số 1081/NHN-KHDN của Ngân hàng thì sàn lãi suất cho vay 1 năm là 6,7%/năm.
Hội đồng xét xử nhận thấy Công ty Đ tính thời hạn sau 15 ngày kể từ ngày xuất hoá đơn hoá đơn số 0023525 ngày 30/5/2020, số tiền 4.110.035.908 đồng( theo hoá đơn). Ngày 01/06/2020, Công ty Đ đã thanh toán cho Công ty G số tiền 304.638.210 đồng; Ngày 07/09/2020 Công ty Đ đã thanh toán cho Công ty G số tiền 1.000.000.000 đồng. Tổng hai lần thanh toán là 1.304.638.210 đồng, số tiền vận chuyển hàng còn nợ lại tại thời điểm hiện nay 2.805.397.698 đồng, thời điểm tính lãi là kể từ ngày 15/6/2021 cần ghi nhận sự tự nguyện của Công ty G. Đối với thời điểm tính lãi của 2.494.783.099 đồng theo hoá đơn 0023612 ngày 30/6/2020 là ngày 15/7/2020 là theo đúng thoả thuận trong hợp đồng. Về lãi suất hai bên thoả thuận là phù hợp với qui định tại điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 nên cần chấp nhận mức lãi suất này.
Vì vậy, chấp nhận yêu cầu tính lãi của Công ty G đối với Công ty Đ cụ thể như sau:
Số tiền lãi từ ngày 15/6/2020 đến ngày 12/9/2024 của hoá đơn 0023525 là:
2.805.397.698 đồng x 6,7%/năm x 150% x 1550 ngày/365 ngày = 1.197.289.935 đồng.
Số tiền lãi từ ngày 16/7/2020 đến ngày 12/9/2024 của hoá đơn 0023612 là:
2.494.783.099 đồng x 6,7%/năm x 150% x 1519 ngày/365 ngày = 1.043.431.070 đồng.
Buộc Công ty Đ phải thanh toán cho Công ty G tổng số tiền lãi 2.240.721.005 đồng.
[3.3] Về yêu cầu tính lãi tiếp ngày xét xử sơ thẩm.
Xét thấy yêu cầu của Công ty G đối với Công ty Đ về tính lãi tiếp ngày xét xử sơ thẩm đối với số tiền còn chậm thanh toán trong hợp đồng là phù hợp với qui định tại điểm a Điều 13 Nghị Quyết 01/2019/HĐTP ngày 11 tháng 1 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao nên chấp nhận yêu cầu tính lãi từ ngày 13/9/2024 đối với số tiền còn chậm thanh toán.
[4] Về án phí: Công ty G được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Công ty Đ phải trả số tiền cước chậm thanh toán và tiền lãi 7.540.901.802 đồng nên án phí phải chiuh là 115.540.901 đồng (làm tròn số 115.540.900 đồng) theo quy định của pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 30; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 114; Điều 124; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
- - Điều 530, Điều 533 và Điều 536 Bộ Luật Dân sự năm 2015.
- - Điều 85 và Điều 87 Luật thương mại năm 2005.
- - Điều 2, 6, 7, 9, 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
- - Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng vay tài sản; lãi suất trung bình trên thị trường; quyết định lãi, lãi suất trong bản án, quyết định của Tòa án;
- - Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBNVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty Cổ phần G đối với bị đơn - Công ty TNHH Đ.
Buộc Công ty TNHH Đ có nghĩa vụ trả cho Công ty Cổ phần G tổng số tiền vận chuyển hàng hoá chậm thanh toán 5.300.180.797 đồng và lãi tính đến ngày 12/9/2024 là: 2.240.721.005 đồng.
Kể từ ngày 13/9/2024 cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà hai bên thoả thuận trong hợp đồng.
2. Án phí:
Công ty Cổ phần G được nhận lại 57.397.000 đồng ( Năm mươi bảy triệu, ba trăm chín mươi bảy nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm, theo Biên lại tạm ứng án phí số 0006245 ngày 29/01/2024.
Công ty TNHH Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 115.540.900 đồng (Một trăm mười lăm triệu, năm trăm bốn mươi nghìn, chín trăm đồng).
3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm (có mặt) người đại diện theo uỷ quyền của Công ty Cổ phần G, người đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH Đ. Công ty Cổ phần G, Công ty TNHH Đ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
4. Thi hành án khi bản án có hiệu lực pháp luật: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND quận Hoàn Kiếm; - Chi Cục Thi hành án DS quận Hoàn Kiếm; - Tòa án NDTP Hà Nội; - VKSND TP Hà Nội; - Lưu Hồ sơ, Văn phòng; |
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Việt Hùng |
Bản án số 35/2024/KDTM-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa
- Số bản án: 35/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vận chuyển hàng hóa giữa Công ty CP G và Công ty TNHH Đ
