|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04-9-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ánh Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Hòa;
Ông Nguyễn Văn Độ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Kiều Vĩnh Phong, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Võ Thanh Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 136/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 96/2024/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1985; nơi thường trú: Tổ A, ấp Ô, xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1978; nơi thường trú: Tổ A, ấp Ô, xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 28 tháng 6 năm 2024 và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:
Về hôn nhân: Bà Trần Thị N và ông Đỗ Văn T chung sống năm 2015, đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận kết hôn số 20, quyển số 01/2015 do Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương cấp ngày 19 tháng 5 năm 2015. Hôn nhân tự nguyện.
Quá trình chung sống có 01 con chung là cháu Đỗ Trần Như Ý, sinh ngày 29 tháng 10 năm 2015. Con chung hiện đang sống với bà N tại ấp Ông C, xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương.
Về tài sản chung, về nợ chung: Không có.
Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn: do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lo lắng cho nhau. Hiện không còn sống chung. Nhận thấy hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, bà N yêu cầu ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà N yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình tố tụng, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, bị đơn không gửi văn bản trình bày ý kiến về việc yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con của nguyên đơn và cũng không đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.
Theo biên bản xác minh ngày 19 tháng 7 năm 2024, Công chức Tư pháp xã Cây Trường II, huyện B, tỉnh Bình Dương cung cấp như sau: Bà N và ông T là vợ chồng có đăng kí kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C. Về nguyên nhân mâu thuẫn, do bà N, ông T không trình báo nên địa phương không có thông tin.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn bà Trần Thị N vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Bị đơn ông Đỗ Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng:
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại các Điều từ 26 đến Điều 40 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc xác định tư cách tham gia tố tụng đúng quy định tại Điều 68 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại các Điều từ 93 đến 97 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý cho Viện kiểm sát và đương sự đúng quy định tại Điều 195, 196 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo quy định tại Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán được quy định tại Điều 48 và khoản 2 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa:
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 63, 239, 243, 249, 258, 260 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Thư ký tuân theo Điều 51 và Điều 237 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xử vắng mặt theo khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án:
Bà Trần Thị N và ông Đỗ Văn T chung sống với nhau từ năm 2014 và đăng ký kết hôn ngày 19/5/2015 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương, hôn nhân tự nguyện. Quá trình chung sống thường xảy ra nhiều mâu thuẫn do ông T thường xuyên uống rượu, chửi mắng vợ con, vợ chồng không còn tình cảm dành cho nhau.
Quá trình chung sống có 01 con chung là cháu Đỗ Trần Như Ý, sinh ngày 29 tháng 10 năm 2015.
Về tài sản chung, nợ chung: không có.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng đã tiến hành xác minh về tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông T. Ông T không lên làm việc tại tất cả các buổi triệu tập của Tòa án.
Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ quan tâm chăm sóc lẫn nhau, việc bà N và ông T là vợ chồng nhưng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không còn cùng chia sẻ, thực hiện các công việc chung trong gia đình như vậy đã vi phạm nghiêm trọng đến quyền, nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà N là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: cháu Ý có mong muốn ở chung với mẹ. Hiện cháu Ý đang sinh sống ổn định với bà N. Bà N có thu nhập đủ để nuôi con không yêu cầu ông T cấp dưỡng, yêu cầu của nguyên đơn có căn cứ chấp nhận.
Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nhận thấy: yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ông Đỗ Văn T có nơi cư trú tại Tổ A, ấp Ô, xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà Trần Thị N khởi kiện ông Đỗ Văn T, yêu cầu ly hôn, yêu cầu nuôi con chung do đó quan hệ pháp luật tranh chấp là ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.3] Sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Bà Trần Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Đỗ Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về hôn nhân: mối quan hệ hôn nhân giữa bà Trần Thị N và ông Đỗ Văn T là hôn nhân hợp pháp. Bà N yêu cầu ly hôn ông T do vợ chồng mâu thuẫn kéo dài không thể hàn gắn, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, lo lắng cho nhau, hiện không còn sống chung với nhau. Có cơ sở xác định hôn nhân của bà N, ông T lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Bà N yêu cầu ly hôn với ông T là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Bà Trần Thị N và ông Đỗ Văn T có 01 con là cháu Đỗ Trần Như Ý, sinh ngày 29 tháng 10 năm 2015. Con chung hiện đang sống với bà N tại ấp Ông C, xã C, huyện B, tỉnh Bình Dương. Quá trình tố tụng, cháu Ý có nguyện vọng được sống với bà N. Xét, bà N có nơi ở, việc làm, thu nhập ổn định đủ điều kiện chăm sóc, giáo dục con, Hội đồng xét xử xét, giao con chung cho bà N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị N và ông Đỗ Văn T không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc tuân theo pháp luật tố tụng và về nội dung vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Bà Trần Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238, các Điều 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 58, khoản 1 Điều 59, các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Luật Phí và Lệ phí, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
1. Tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị N đối với bị đơn ông Đỗ Văn T về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Về hôn nhân: cho ly hôn giữa bà Trần Thị N và ông Đỗ Văn T.
Về nuôi con chung: giao cháu Đỗ Trần Như Ý, sinh ngày 29 tháng 10 năm 2015 cho bà Trần Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con nên Tòa án không giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.
Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị N và ông Đỗ Văn T không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung nên Tòa án không giải quyết.
2. Về án phí:
Bà Trần Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003528 ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng.
3. Về quyền kháng cáo:
các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ánh Tuyết |
Bản án số 35/2024/HNGĐ-ST ngày 04/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 35/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BÀ TRẦN THỊ N YÊU CẦU LY HÔN ÔNG ĐỖ VĂN T
