Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20.8.2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ-TP ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hà
  • Ông Đặng Ngọc Thúy
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yên Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.
  • Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thanh Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 154/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29.7.2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 154/2024/QĐ-HPT ngày 16.08.2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Lương Thị Hồng B, sinh năm: 1974; địa chỉ: Số K đường L, tổ B, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. (có mặt).

* Bị đơn: Ông Trần Xuân V, sinh năm: 1967; địa chỉ: Số K đường L, tổ B, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng (vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 11.4.2024, các bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn – bà Lương Thị Hồng B trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Trần Xuân V xây dựng gia đình vào năm 1997 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng về chung sống tại địa chỉ: số K đường L, tổ B, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Trần Xuân V không lo cho gia đình, nhiều lần say xỉn đánh đập vợ con. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Trần Xuân V.

Về con chung: Tôi xác định vợ chồng có 02 (hai) người con chung là Trần Xuân Q1, sinh ngày 16.3.1998 và Trần Xuân P, sinh ngày 29.1.2009.

Ly hôn, tôi có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Xuân P, sinh ngày 29.1.2009. Ông Trần Xuân V không cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Trần Xuân Q1, sinh ngày: 16.03.1998 đã đến tuổi trưởng thành nên không đề cập đến, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lương Thị Hồng B xác định không có.

* Về phía bị đơn ông Trần Xuân V: Mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật nhưng ông Trần Xuân V vẫn không có ý kiến phản hồi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến tại phiên toà về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa cũng như việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Lương Thị Hồng B về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” đối với ông Trần Xuân V. Giao 01 (một) con chung Trần Xuân P, sinh ngày 29.1.2009 cho bà Lương Thị Hồng B trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra lại tại phiên tòa; sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Nguyên đơn – bà Lương Thị Hồng B khởi kiện “ Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” với bị đơn – ông Trần Xuân V, có địa chỉ tại số K đường L, tổ B, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. Do đó, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng bị đơn – ông Trần Xuân V vẫn vắng mặt không lý do. Vì vậy, áp dụng điểm c khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Trần Xuân V.

Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị Hồng B và ông Trần Xuân V xây dựng gia đình vào năm 1997, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. Đây là cuộc hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông bà chung sống tại địa chỉ số K đường L, tổ B, phường C, quận T, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống thì giữa vợ chồng ông bà phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, theo bà Lương Thị Hồng B xác định do bất đồng về quan điểm sống, ông Trần Xuân V thường xuyên nhậu nhẹt, đánh đạp vợ con, không chí thú làm ăn. Để ổn định cuộc sống, bà Lương Thị Hồng B đã làm đơn khởi kiện xin ly hôn với ông Trần Xuân V. Còn về phía ông Trần Xuân V, tuy Tòa án đã làm các thủ tục theo quy định của pháp luật nhưng ông V vẫn không có ý kiến phản hồi.

Xét thấy: Mục đích hôn nhân chỉ có thể đạt được khi cả vợ và chồng cùng có ý thức và trách nhiệm trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc, nhưng hiện nay ông bà đã xác định tình cảm vợ chồng không còn. Năm 2023, bà Lương Thị Hồng B đã có đơn khởi kiện ly hôn đối với ông Trần Xuân V, nhưng đã được Tòa án phân tích, giải thích và bà đã rút đơn để vợ chồng hàn gắn. Nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Theo kết quả xác minh, hiện nay ông bà sống không có trách nhiệm gì với nhau, cuộc sống vợ chồng thường xuyên cãi vả. Do đó, nguyện vọng xin được ly hôn để ổn định cuộc sống của bà Lương Thị Hồng B là giải pháp hợp lý, phù hợp với các quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Về con chung: Bà Lương Thị Hồng B xác định vợ chồng có 02 (hai) người con chung Trần Xuân Q1, sinh ngày 16.3.1998 và Trần Xuân P, sinh ngày 29.1.2009.

Ly hôn, bà Lương Thị Hồng B có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Trần Xuân P, sinh ngày 29.1.2009 và không yêu cầu ông Trần Xuân V cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy: Việc giao con cho ai nuôi dưỡng một mặt phải căn cứ vào điều kiện kinh tế của mỗi bên cũng như xem xét tới quyền lợi mọi mặt của đứa trẻ. Hiện nay, cháu Trần Xuân P đang học tập và sinh sống ổn định cùng bà Lương Thị Hồng B. Về phía ông Trần Xuân V, như đã nhận định ở trên, ông không có bất cứ ý kiến phản hồi gì yêu cầu khởi kiện xin ly hôn, cũng như nuôi con chung. Do đó, để ổn định về mặt tâm lý, không làm xáo trộn cuộc sống của các con sau khi ông bà ly hôn nên cần tiếp tục giao cháu Trần Xuân P cho bà Lương Thị Hồng B trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành và ông Trần Xuân V không phải cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lương Thị Hồng B xác định không có nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, bà Lương Thị Hồng B phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn – bà Lương Thị Hồng B đối với bị đơn – ông Trần Xuân V.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lương Thị Hồng B được ly hôn với ông Trần Xuân V.
  2. Về con chung: Giao con Trần Xuân P, sinh ngày 29.01.2009 cho bà Lương Thị Hồng B trực tiếp nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành. Ông Trần Xuân V không cấp dưỡng nuôi con.

    Các bên có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật.

  3. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: 300.000₫ bà Lương Thị Hồng B phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ bà đã nộp theo biên lai thu số 0001127 ngày 02.5.2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Án xử sơ thẩm, bà Lương Thị Hồng B được quyền kháng cáo trong thười hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Ông Trần Xuân V vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết trích sao bản án.

Nơi nhận:

  • - Các bên đương sự;
  • - VKSND quận Thanh Khê;
  • - Chi cục THADS quận Thanh Khê;
  • - UBND phường Chính Gián;
  • - Lưu Hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan Anh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM:

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 35/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa nguyên đơn - bà Lương Thị Hồng B và bị đơn - ông Trần Xuân V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger