Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHĨA LỘ

TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày 19/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Hải.

Bà Nguyễn Thị Lý.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hờ A Say, Thư ký TAND thị xã Nghĩa Lộ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tham gia phiên tòa: Ông Lò Văn Tiên - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST - HS ngày 26 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST - HS ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Hà Văn T, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 11/9/1995 tại thị xã N, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Tổ B, phường P, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Văn C (đã chết) và bà Hoàng Thị M, sinh năm 1964; Vợ đã ly hôn là Lường Thị T1 và 01 con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 28/02/2024, tạm giam ngày 08/3/2024, đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

  2. Cứ A C1, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 16/5/1974 tại huyện V, tỉnh Yên Bái. HKTT: Thôn K, xã N, huyện V. Nơi ở hiện nay: Thôn N, xã S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Cứ A T2 (đã chết) và bà Vàng Thị D, sinh năm 1932. Vợ là Vàng Thị S (đã chết), có 07 con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt quả tang ngày 27/02/2024, tạm giữ ngày 01/3/2024, tạm giam ngày 07/3/2024, đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N, tỉnh Yên Bái. Có mặt

  3. Vàng A N, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 04/4/1966 tại huyện V, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Thôn N, xã S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Vàng A S1 và bà Mùa Thị C2 (đều đã chết). Vợ là Cứ Thị S2, có 06 con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt quả tang ngày 29/02/2024, tạm giữ ngày 01/3/2024, tạm giam ngày 07/3/2024, đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N, tỉnh Yên Bái. Có mặt

  4. Bàn Sinh P, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 27/9/1989 tại huyện V, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện V. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.Con ông Bàn Kim Đ, sinh năm 1969 và bà Bàn Thị M1, sinh năm 1970. Có vợ là Bàn Thị G và 02 con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt quả tang ngày 29/02/2024, tạm giữ ngày 01/3/2024, tạm giam ngày 07/3/2024, đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N, tỉnh Yên Bái. Có mặt

  5. Triệu Nho Đ1, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 15/10/1994 tại huyện V, tỉnh Yên Bái. Nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện V. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Hà Văn Đ2 (đã chết) và bà Hoàng Thị B. Cha mẹ nuôi là ông Triệu Tài H và bà Bà Thị P1. Có vợ là Triệu Thị L và 03 con. Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt quả tang ngày 29/02/2024, tạm giữ ngày 01/3/2024, tạm giam ngày 07/3/2024, đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã N, tỉnh Yên Bái. Có mặt

Người bào chữa cho bị cáo Hà Văn T: Ông Hoàng Trọng H1, Luật sư thuộc đoàn luật sư tỉnh Y. Có mặt.

Người bào chữa cho các bị cáo Cứ A C3, Vàng A N, Bàn Sinh P, Triệu Nho Đ1: Bà Nguyễn Thị D1, trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Y. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Hà Văn T3, sinh năm 1987. HKTT: Thôn N, xã N, thị xã N. Nơi ở hiện nay: Tổ B, phường P, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Có mặt

Chị Cứ Thị S2, sinh năm 1967. Địa chỉ: Thôn N, xã S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

Chị Triệu Thị L, sinh năm 1992. Thôn H, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

Người làm chứng: Anh Sầm Văn L1, sinh năm 1995. Địa chỉ: Bản C, xã S, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

Anh Hoàng Văn H2, sinh năm 1983. Địa chỉ: Bản C, xã S, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

Anh Đồng Văn T4, sinh năm 1991. Địa chỉ: Tổ B, phường T, thị xã N, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

Anh Vì Văn S3, sinh năm 1994. Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

Anh Vàng A C4, sinh năm 1986. Địa chỉ: Thôn N, xã S, huyện V, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ ngày 27/02/2024 tổ công tác phòng cảnh sát điều tra tội phạm công an tỉnh Y phát hiện tại cầu treo thuộc tổ bản Ten, phường P có một số đối tượng tụ tập đang có hành vi mua bán ma túy, phát hiện công an một đối tượng bỏ chạy, bắt giữ được Hà Văn T. Thu giữ tại túi áo khoác của T 03 gói giấy bên trong có chứa chất bột nén màu trắng, số tiền 570.000đồng, 01 điện thoại di động hiệu VIVO và 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha màu sơn đen không có biển kiểm soát. Tươi khai nhận chất bột nén là H3 của T mang đi bán nhưng chưa bán được thì bị bắt giữ.

Tại cơ quan điều tra T khai do nghiện ma túy nên đã 02 lần đến nhà Cứ A C1 tại thôn N, xã S, huyện V mua ma túy của C1 về chia nhỏ để sử dụng và bán lại cho các đối tượng nghiện. Lần đầu ngày 25/02/2024 T mượn xe mô tô của anh trai là Hà Văn T3 đi đến nhà C1 mua được 01 gói ma túy với giá 600.000đồng, khi thanh toán T xin C1 bớt 60.000đồng nên T chỉ đưa cho C1 540.000đồng, số ma túy mua được T đã sử dụng và bán lại kiếm lời nhưng không nhớ rõ người mua. Lần thứ hai vào khoảng 16 giờ ngày 26/02/2024 T lại mượn xe của anh T3 đi đến nhà C1 hỏi mua 3 phần ma túy, C1 đồng ý và bán cho 01 gói ma túy với giá 800.000đồng. Tươi đem về chia thành nhiều gói nhỏ gói bằng giấy bạc màu trắng để sử dụng và bán lại.

Ngày 21 giờ ngày 26/02/2024 T nhận được điện thoại của Sầm Văn L1 gọi hỏi mua 01 gói ma túy, hai bên hẹn nhau giao dịch tại cửa hàng xăng dầu thuộc bản C, xã S. Trên đường đi T gặp Lường Văn T5 và Cứ T3 đi chơi cùng, khi đến nơi hẹn T thấy L1 và Hoàng Văn H2 cùng đang đứng đợi, H2 đưa cho T 100.000đồng. Tươi biết được là L1 và H2 cùng nhau mua ma túy nên đã nhận tiền và lấy 01 gói ma túy đưa lại cho H2, sau đó T tự T5 đến nhà người quen rồi đi về.

Khoảng 11 giờ ngày 27/02/2024 T nhận được điện thoại của Đồng Văn T4 hỏi mua 01 gói ma túy. Tươi đồng ý và hẹn giao dịch tại cầu T, phường P. Khi đến ngã ba đường đi vào bản T6, T đã bán cho T4 01 gói ma túy với giá 100.000đồng.

Khoảng 12 giờ ngày 27/02/2024 T nhận được điện thoại của Vì Văn S3 hỏi mua 01 gói ma túy. Tươi hẹn S3 tại khu vực bản T, phường P để bán. Tại nơi hẹn T đã bán cho S3 01 gói ma túy với giá 100.000đồng.

Khoảng 17 giờ ngày 27/02/2024 Sầm Văn L1 gọi điện hỏi mua 01 gói ma túy và hẹn Tươi đến khu vực cổng bệnh viện Đ3, do T không đi được nên hẹn L1 hẹn T tại đầu cầu treo bản Ten, phường P để mua bán sau đó Lập đến chỗ hẹn đợi. Khi T vừa đến chuẩn bị lấy ma túy ra đưa cho L1 thì bị công an tỉnh Y phát hiện bắt giữ T còn L1 bỏ chạy.

Tiến hành điều tra đối với Sầm Văn L1, Hoàng Văn H2, Đồng Văn T4 và Vì Văn S3 đã chứng minh được đều là những người nghiện chất ma túy nên đã mua ma túy của Tươi để sử dụng. T4 và S3 mỗi người mua 1 lần/gói, riêng L1 và H2 cùng nhau góp tiền tối ngày 26/02/2024 để mua chung nhau một gói sau đó chia nhau sử dụng.

Căn cứ lời khai của Hà Văn T, ngày 29/02/2024 cơ quan điều tra công an tỉnh Y đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Cứ A. Quá trình khám xét đã bắt quả tang C1 về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy; bắt quả tang Vàng A N, Bàn Sinh P và Triệu Nho Đ1 đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ của C1: 01 lọ nhựa bên trong có chứa chất bột nén màu trắng tại túi áo, 01 túi nilon màu xanh tím than bên trong có chứa chất bột nén màu hồng tại giường nơi C1 đang ngồi. C1 tự giác giao nộp 01 túi ni lon màu đen, 01 túi nilon màu xanh bên trong đều chứa chất bột nén màu trắng lấy tại chân cột nhà; số tiền 1.420.000đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và 01 cân tiểu ly. C1 khai nhận toàn bộ số bột nén là ma túy Heroin của C1 để bán và sử dụng, C1 vừa bán cho N, C4 mỗi người một gói ma túy với giá 100.000đồng, bán cho P 01 gói ma túy giá 200.000đồng.

Thu giữ của Vàng A N 01 gói nilon màu hồng bên trong chứa chất bột nén màu trắng tại túi áo ngực, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda BKS 21K1-41431 và 01 giấy chứng nhận đăng xe mô tô mang tên N. Nủ khai nhận chất bột nén bị thu giữ là ma túy vừa mua của C1 với giá 100.000đồng. Bàn Sinh Phương tự giác lấy dưới gối ra 01 gói ma túy màu xanh bên trong chứa chất bột nén màu trắng giao nộp, P và Đ1 khai nhận chất bột nén đó là ma túy do P và Đ1 góp tiền vừa mua của C1 với giá 200.000đồng. Thu giữ của P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme. Thu giữ của Đ1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha BKS 11U1-09642 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Đàm Quang H4.

Quá trình điều tra Cứ A C1 khai nhận: Vợ của C1 là Vàng Thị S trước khi chết có đưa cho C1 một túi vải bên trong có khoảng 04 đến 05 chỉ ma túy bảo để bán lấy tiền chi tiêu, C1 không biết vợ mua ma túy của ai, ở đâu. C1 đã lấy số ma túy đó sử dụng và bán lại cho nhiều người nhưng không nhớ rõ hết mà chỉ nhớ đã bán cho P, T, N, C4. Cụ thể ngày 30/12/2023 âm lịch (tức ngày 09/02/2024) bán cho P 01 gói với giá 100.000đồng tại nhà, sau khi bán thì P sử dụng luôn tại nhà C1. Ngày 25/02/2024 bán cho T 01 gói với giá thỏa thuận là 600.000đồng sau đó cho 60.000đồng nên chỉ thu 540.000đồng; ngày 26/02/2024 bán cho T 01 gói với giá 800.000đồng. Hai lần bán ma túy cho T đều bán tại nhà, sau khi mua được ma túy thì T đi về không sử dụng tại nhà C1. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 29/02/2024 Vàng A N đến nhà hỏi mua 01 gói ma túy, C1 lấy ma túy từ trong lọ nhựa ra bán cho N với giá 100.000đồng, sau khi nhận ma túy Nủ đến cuối giường mà C1 đang ngồi dùng mảnh giấy bạc và bật lửa ga rồi lấy một phần ma túy vừa mua để lên giấy bạc bật lửa hơ đốt bên dưới cho ma túy nóng bốc khói và hít vào cơ thể. Việc N sử dụng ma túy tại giường C1 biết nhưng để mặc.

Sau khi N sử dụng ma túy xong thì Vàng A C4 đến, một lúc sau thì Bàn Sinh P và Triệu Nho Đ1 cùng đến nhà C1. C4 cầm tờ tiền 200.000đồng đến chỗ P đổi thành 2 tờ 100.000đồng. Sau đó C4 đưa 100.000đồng cho C1 để mua ma túy, C1 cầm tiền rồi lấy một ít ma túy từ trong lọ ra đưa cho C4. Đưa ma túy cho C4 xong thì thì P lại chỗ C1 và đưa luôn C1 200.000đồng để mua 01 gói ma túy, C1 nhận tiền và lấy một ít ma túy trong lọ đổ ra mành nilon màu xanh đưa cho P. Sau khi mua được ma túy C4 cầm đi về còn P đến ngồi ở giường cùng với Đ1. Sau đó P và Đ1 cùng sử dụng ma túy tại giường, C1 biết nhưng không có ý kiến gì.

Lời khai của Vàng A N và Bàn Sinh P, Triệu Nho Đ1 hoàn toàn phù hợp với với khai của C1, thể hiện việc N mua 01 gói ma túy với giá 100.000đồng từ C1, sau đó N đem ma túy đến cuối giường và lấy ra một phần để lên giấy bạc sau đó dùng bật lửa hơ đốt bên dưới cho ma túy nóng bốc khỏi và hít vào cơ thể. Số ma túy còn lại chưa sử dụng hết thì bị công an phát hiện thu giữ.

Bàn Sinh P và Triệu Nho Đ1 khai nhận có góp mỗi người 100.000đồng để mua ma túy sau đó chia nhau. P là người cầm tiền và trực tiếp giao dịch với C1. P và Đ1 nhìn thấy việc mua bán giữa C4 và C1. Liền ngay sau đó P cũng đưa cho C1 200.000đồng để mua 01 gói ma túy. Sau đó P đi đến giường đối diện với giường mà C1 và N đang ngồi cùng với Đ1 sử dụng ma túy bằng cách cho ma túy vào một mảnh giấy bạc rồi dùng bật lửa đem theo để hơ ma túy cho nóng, bốc khói rồi cả hai hít khói vào cơ thể. Khi đang sử dụng thì công an đến, P liền cho số ma túy còn lại của cả hai cất giấu dưới gối. Ngoài ra P cũng thừa nhận trước đó ngày 30/12/2023 âm lịch có mua của C1 01 gói ma túy với giá 100.000đồng rồi sử dụng luôn tại nhà C1.

Tại bản kết luận giám định số 133/KL-KTHS ngày 04/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y đã kết luận: Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Tươi trong 02 gói giấy bạc màu trắng có tổng khối lượng là 0,07 gam, là ma túy loại Heroine. Chất bột nén màu trắng thu giữ của T trong túi nilon màu xanh có khối lượng là 0,02 gam là ma túy loại Heroine.

Tại bản kết luận giám định số 129/KL-KTHS ngày 04/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y đã kết luận: Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Cứ A C1 trong lọ nhựa có khối lượng 4,1 gam là ma túy loại Heroine. Chất bột nén màu trắng hồng thu giữ của Cứ A C1 trong túi nilon màu xanh tím than có khối lượng là 0,27 gam là ma túy loại Heroin và M2. Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Cứ A C1 trong gói ni lon màu đen có khối lượng 2,28 gam là ma túy loại Heroin. Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Cứ A C1 trong gói ni lon màu xanh có khối lượng 0,05 gam là ma túy loại Heroin.

Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Vàng A N có khối lượng 0,24 gam là ma túy loại Heroin.

Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Bàn Sinh P và Triệu Nho Đ1 có khối lượng 0,25 gam là ma túy loại Heroin.

Tại bản kết luận giám định số 138/KL-KTHS ngày 05/3/2024 và 146/KL-KTHS ngày 06/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh Y đã kết luận: Toàn bộ số tiền thu giữ trong vụ án là tiền thật.

Ngoài hành vi bán ma túy cho H2, L1, T4 và S3 thì bị cáo T còn khai ngày 26/2/2024 bán cho H5 nhà ở bản T, phường P và H6 nhà ở N, xã N 01 gói ma túy giá 100.000đồng; ngày 27/2/2024 bán cho N1 nhà ở Bản L, phường T và Nhất nhà ở Tổ B, phường P 01 gói giá 100.000đồng. Cơ quan điều tra đã xác minh tại địa phương nhưng không có Hiếu có đặc điểm như Tươi mô tả, còn H5, N2 và N1 đều không có mặt tại địa phương, vì vậy nên chưa có đủ căn cứ kết luận để xử lý Tươi về những lần bán ma túy đó.

Cáo trạng số: 29/CT-VKS-NL ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã truy tố: Hà Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; Cứ A C1 về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b, c, p khoản 2 Điều 251 và các điểm b, d khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự; Vàng A N, Bàn Sinh P và Triệu Nho Đ1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đã phân tích mục đích, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đối với từng bị cáo, bổ sung tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo T; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố:

Bị cáo Hà Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s, t khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Bị cáo Cứ A C3 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Áp dụng điểm b, c, p khoản 2 Điều 251 và các điểm b, d khoản 2 Điều 256; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm 06 tháng năm tù đối với tội Mua bán trái phép chất ma túy, xử phạt bị cáo từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù đối với tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung từ 16 năm 06 tháng đến 18 năm tù.

Bị cáo Vàng A N, Bàn Sinh P và Triệu Nho Đ1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với cả 3 bị cáo, xử phạt ba bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cả 5 bị cáo.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 6,2 gam ma túy loại Heroine, 0,17 gam ma túy loại Heroin và M2; 06 vỏ phong bì thư, 04 mảnh giấy bạc, 02 túi nilon màu xanh, các mảnh nilon gói, các mảnh giấy bạc, 02 bật lửa ga, 01 lọ nhựa và 01 cân tiểu ly; Tịch thu của bị cáo T số tiền 300.000đồng, trả lại cho Tươi 270.000đ, tịch thu của bị cáo C3 số tiền 1.420.000đ; Truy thu của bị cáo C3 số tiền 320.000 đồng. tịch thu của bị cáo T 01 điện thoại di động, tịch thu của bị cáo C3 01 điện thoại di động. Trả lại cho bị cáo N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, trả lại bị cáo P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, trả lại bị cáo Đ1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme.

Tại phiên tòa bị cáo T khai vì muốn có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã mua ma túy của C3 về chia nhỏ vừa sử dụng và bán lại thu lợi nhuận lấy tiền mua ma túy tiếp như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo C3 thừa nhận đã thực hiện hành vi bán ma túy và chứa chấp cho các bị cáo N, P, Đ1 sử dụng ma túy tại nhà đúng như cáo trạng. Bị cáo N khai mua ma túy của C3 sau đó sử dụng tại nhà C3, số còn lại chưa sử dụng hết thì bị bắt giữ. Bị cáo P và Đ1 khai thống nhất cùng nhau đi mua ma túy với mục đích sau đó chia nhau nhưng do thấy C3 và N sử dụng nên mới bỏ một phần ra sử dụng chứ không có ý định cùng sử dụng với nhau từ trước, số còn lại chưa kịp chia nhau thì bị bắt giữ. Các bị cáo đều không tranh luận với Kiểm sát viên về tội danh, điều luật, mức hình phạt và các vấn đề khác do Kiểm sát viên đề nghị. Lời nói sau cùng đều xin giảm nhẹ hình phạt, đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái.

Người bào chữa cho bị cáo T tranh luận: Nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng mà cáo trạng đã truy tố, đề nghị HĐXX xem xét đến hoàn cảnh môi trường sống của bị cáo là người dân tộc, quá trình bị bắt giữ đã tự giác giao nộp ma túy, lượng ma túy bị thu giữ ít, số tiền thu lợi ít, ngoài ra bị cáo đã khai ra hành vi bán ma túy trước đó khi chưa ai phát hiện, bị cáo khai ra địa chỉ, nơi ở cụ thể của bị cáo C3 từ đó cơ quan điều tra có thông tin điều tra phát hiện thêm tội phạm mới. Đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm r, s, t khoản 1 Điều 51 BLHS để xử với mức hình phạt mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt là 07 năm tù.

Người bào chữa cho bị cáo C3, N, P, Đ1 tranh luận: Nhất trí với tội danh, điều luật áp dụng mà cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét đến hoàn cảnh môi trường sống của các bị cáo đều là những người dân tộc thiểu số có trình độ dân trí thấp, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Quá trình bị bắt giữ bị cáo C3 đã tự giác giao nộp ma túy, lượng ma túy bị thu giữ của bị cáo N, P và Đ1 là ít; các bị cáo đều thành khẩn khai báo, vì vậy đề nghị HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo để xử với mức hình phạt thấp nhất. Đối với các bị cáo C3 áp dụng điểm s, t khoản 1 Điều 51 BLHS cho tội Mua bán trái phép chất ma túy, áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS cho tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Các bị cáo N, P và Đ1 áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Đề nghị miễn án phí cho các bị cáo.

Những người có quyền lợi liên quan anh T3 khai không biết việc bị cáo T mượn xe mô tô của mình để làm phương tiện đi mua ma túy nên đề nghị xin lại chiếc xe. Chị S2 và chị L. đều khai không biết chồng mình là bị cáo N và Đ1 sử dụng tài sản chung của gia đình là xe mô tô làm phương tiện đi mua ma túy sử dụng nên đề nghị trả lại xe mô tô cho gia đình.

Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đã được công bố lời khai trong hồ sơ, bị cáo thừa nhận lời khai của những người làm chứng là đúng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.

[2] Về chứng cứ buộc tội:

Lời khai nhận tại phiên tòa của các bị cáo Hà Văn T, Cứ A, Vàng A N, Bàn Sinh P và Triệu Nho Đ1 hoàn toàn phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được cũng như những lời khai của các bị cáo, người làm chứng trong quá trình điều tra. Đã có đủ căn cứ chứng minh được:

Đối với bị cáo Hà Văn T: Trong hai ngày 25 và 26/2/2024 đã 02 lần đến nhà Cứ A C1 mua 02 gói ma túy đem về chia nhỏ và bán lại cho các đối tượng nghiện: ngày 25/02/2024 Tươi mua 01 gói với giá 540.000 đồng, ngày 26/2/2024 mua 01 gói với giá 800.000đồng. Ngày 26 và 27/2/2024 T đã bán 03 lần 03 gói ma túy thu được 300.000đồng, cụ thể: Khoảng 21 giờ ngày 26/2/2024 tươi bán cho Sầm Văn L1 và Hoàng Văn H2 chung nhau 01 gói ma túy giá 100.000đồng; khoảng 11 giờ ngày 27/2/2024 bán cho Đồng V tuyên 01 gói giá 100.000 đồng; khoảng 12 giờ ngày 27/2/2027 bán cho Vì Văn S3 01 gói giá 100.000đồng, đến 17 giờ ngày 27/2/2024 khi đang đem ma túy đến chỗ hẹn để bán cho L1 thì bị bắt. Số ma túy bị cáo tàng trữ nhằm mục đích bán có khối lượng là 0,09gam Heroin. Với hành vi 03 lần bán 03 gói ma túy trong đó có 01 lần bán cùng một lúc cho 2 người (Hợi và L1) vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên” và “đối với 02 người trở lên” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo Cứ A C3: Sử dụng số ma túy do vợ để lại bán cho các đối tượng nghiện. Ngày 09/02/2024 (tức ngày 30/12/2023 âm lịch) bán 01 gói ma túy giá 100.000đồng cho Bàn Sinh P sau đó để mặc cho P sử dụng ma túy tại nhà mình. Ngày 25/02/2024 bán 01 gói cho Tươi thu 540.000đồng, ngày 26/02/2024 bán 01 gói cho Tươi giá 800.000đồng. Ngày 29/02/2024 bán cho Vàng A N 01 gói giá 100.000đồng sau đó để mặc cho N sử dụng ma túy luôn tại nhà mình; bán cho Vàng A C4 01 gói ma túy giá 100.000đồng, sau đó bán tiếp cho Bàn Sinh P 01 gói giá 200.000đồng và để mặc cho P, Đ1 sử dụng ma túy luôn tại nhà mình. Số ma túy C3 cất giấu nhằm mục đích sử dụng và bán có tổng khối lượng là 6,7gam trong đó có 0,27 gam gồm hai chất ma túy là H3 và M2, còn lại là H3. Như vậy, bị cáo C3 bán ma túy 06 lần trong đó có 01 lần bán cùng lúc cho hai người (bán cho C4 rồi bán cho P), ngoài ra số ma túy bị cáo tàng trữ nhằm mục đích bán có tổng khối lượng trên 5gam trong đó có hai loại ma túy (H và M2) vì vậy nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên”, “đối với 02 người trở lên” và “có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó......từ điểm h đến điểm o khoản này "theo quy định tại điểm b, c, p khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Ngoài hành vi bán ma túy thì bị cáo còn để mặc cho N, P và Đ1 sử dụng ma túy tại nhà mình, trong đó P đã 2 lần sử dụng tại nhà C3. Riêng trong ngày 29/02/2024 bị cáo đã 02 lần để 3 người sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà sau khi bán ma túy cho họ, trong đó để N sử dụng một lần và trong một lần để cho cả P và Đ1 cùng sử dụng. Vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết định khung tăng nặng là “phạm tội 02 lần trở lên” và “đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 256 của Bộ luật hình sự.

Đối với Vàng A N, Bàn Sinh P và Triệu Nho Đ1: Để thỏa mãn nhu cầu nghiện chất ma túy nên ngày 29/02/2024 đã mua ma túy của C3 để sử dụng, sau khi mua được đã sử dụng luôn tại nhà C3 bằng cách đổ ra giấy bạc rồi hơ lửa để ma túy bốc khói hít vào cơ thể. Bị cáo P và Đ1 mua ma túy với mục đích chia nhau không có ý định cùng nhau sử dụng từ trước, khi nhìn thấy C3 và N đang sử dụng mới nảy sinh ý định sử dụng ma túy của mình đã mua của C3. Số ma túy còn lại N tàng trữ có khối lượng là 0,24 gam Heroin. Số ma túy P và Đ1 tàng trữ có khối lượng là 0,25 gam Heroin nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Hành vi vi phạm của bị cáo T, C3 là rất nghiêm trọng, của bị cáo N, P và Đ1 là nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách kiểm soát, chế độ quản lý độc quyền, sản xuất các chất ma túy của Nhà nước, góp phần làm gia tăng người nghiện chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Ma túy là chất gây nghiện có tác động rất xấu đến sức khỏe người sử dụng và là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác nên nhà nước ta đã tuyên truyền giáo dục và quy định chế tài phạt nghiêm khắc đối với loại tội phạm này. Các bị cáo đều là những người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết được việc sử dụng, mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị nghiêm cấm và có hình phạt rất cao nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà từng bị cáo đã thực hiện.

Trong vụ án này các bị cáo T, C3 và N thực hiện hành vi phạm tội độc lập vì vậy các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mình đã thực hiện. Bị cáo P và Đ1 cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội tuy nhiên chỉ nhằm mục đích chia nhau sử dụng cho bản thân, do đó hai bị cáo là đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn.

[3] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo T, C3, N, P và Đ1 đều không có tình tiết tăng nặng nào và được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “người phạm tội thành khẩn khai báo” do các bị cáo đều có thái độ khai báo thành khẩn trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa.

Bị cáo T sau khi bị bắt đã tự khai ra hành vi bán ma túy của mình trước đó khi chưa bị ai phát hiện và khai ra bị cáo C3 từ đó cơ quan điều tra đã có căn cứ để điều tra khởi tố thêm tội phạm mới. Do đó bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là “người phạm tội tự thứ” và “người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm” quy định tại điểm r, t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Các bị cáo T, C3, N, P và Đ1 đều là những người chưa có tiền án, tiền sự nhưng sử dụng chất ma túy nên được xác định là người có nhân thân chưa tốt.

[4] Với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của từng bị cáo, Hội đồng xét xử đối chiếu với các quy định của pháp luật hình sự thấy rằng tội phạm bị cáo T, Châu phạm là tội rất nghiêm trọng, bị cáo N, P, Đ1 phạm là tội nghiêm trọng, tội phạm các bị cáo phạm đều có mức hình phạt tù. Vì vậy cần áp dụng hình phạt tù buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tại trại giam, mức hình phạt tương ứng với hành vi riêng và độc lập của từng bị cáo nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật đồng thời tạo điều kiện cho các bị cáo cai nghiện có hiệu quả. Hình phạt còn có tính răn đe, phòng ngừa tội phạm trong giai đoạn hiện nay đặc biệt là tội phạm về ma túy. Riêng bị cáo Châu phạm hai tội nên cần tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật hình sự.

Theo xác minh tại địa phương và lời khai tại phiên tòa thì các bị cáo không có tài sản riêng, bị cáo Đ1, T thuộc hộ nghèo, vì vậy nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về vật chứng và tài sản tạm giữ:

  • 7,28 gam ma túy loại Heroine và Methamphetamin thu giữ của các bị cáo, cơ quan giám định đã lấy 0,91 gam làm mẫu giám định, còn lại 6,37gam cần tịch thu tiêu hủy vì đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành.

  • 02 chiếc bật lửa, 01 lọ nhựa, 04 mảnh giấy bạc đã bị cháy, 06 vỏ phong bì, 02 túi nilon nẹp kín một đầu, các mảnh nilon gói, các mảnh giấy bạc và 01 cân tiểu ly là những vật không có hoặc giá trị sử dụng thấp cần tịch thu tiêu hủy.

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo của bị cáo T, 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA của bị cáo C3 là những vật dùng vào việc mua bán ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

  • Số tiền 570.000đồng thu giữ của T, chứng minh được có 300.000đồng là tiền bán ma túy cho L1 và H2, T4, S3 nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước, số còn lại 270.000đồng không liên quan đến hành vi phạm tội nên được trả lại cho bị cáo.

  • Số tiền 1.420.000 đồng thu giữ của bị cáo C3, bị cáo khai là tiền bị cáo bán ma túy cho T, N, P và Đ1 được 1.740.000đồng nhưng đã tiêu một phần còn lại 1.420.000đồng. Đây là tiền có được từ hành vi phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, số tiền C3 đã chi tiêu là 320.000đồng cần truy thu để sung quỹ.

  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme thu giữ của bị cáo Đ1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo thu giữ của bị cáo P. Hai bị cáo đều sử dụng làm phương tiện liên lạc rủ nhau mua ma túy nên cần tịch thu sung quỹ. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme thu giữ của bị cáo N nhưng không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho N.

  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave là xe của anh Hà Văn T3, anh T3 không biết bị cáo T mượn dùng làm phương tiện phạm tội do đó cần trả lại cho chủ sở hữu quản lý sử dụng.

  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Blade BKS 21K1-41431 và 01 chứng nhận đăng ký xe đều mang tên Vàng A N. Đây là tài sản chung của vợ chồng N, khi N sử dụng đi mua ma túy sử dụng chị C5 Thị Sai là vợ không biết vì vậy cần giao trả lại cho bị cáo N quản lý sử dụng.

  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter BKS 11U1-09642 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Đàm Quang H4 là tài sản chung của vợ chồng Đ1, khi Đ1 sử dụng đi mua ma túy chị Triệu Thị L không biết, vì vậy cần trao trả lại cho bị cáo Đ1 quản lý sử dụng.

[6] Về nguồn gốc ma túy bị cáo C3 khai do vợ là Vàng Thị S để lại cho trước khi chết, C3 không biết vợ có được ma túy từ đâu, vì vậy nên cơ quan điều tra không có cơ sở manh mối để điều tra xử lý tiếp.

Đối với Hoàng Văn H2, Sầm Văn L1, Đồng Văn T4 và Vì Văn S3 là những người mua ma túy của bị cáo T để sử dụng. Số ma túy mua được đã sử dụng hết vì vậy ngày 16/5/2024 Công an thị xã N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy đối với L1, H2, T4 và S3.

Đối với Vàng A C4 là người mua ma túy của C3, tuy nhiên quá trình điều tra Chu vắng mặt tại địa phương vì vậy cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến công an xã S để tiếp tục theo dõi, có căn cứ sẽ sử lý theo quy định sau.

[7] Mức hình phạt người bào chữa đề nghị áp dụng cho bị cáo T, C3, N, P và Đ1 là thấp chưa tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nên HĐXX không chấp nhận.

Những đề nghị khác của người bào chữa và Kiểm sát viên có căn cứ và phù hợp với nhận định của HĐXX được chấp nhận.

[8] Các bị cáo được miễn án phí do thuộc trường hợp là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn (bị cáo T, Đ1 thuộc hộ nghèo).

Các bị cáo, người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo Cứ A C3 phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Các bị cáo Vàng A N, Bàn Sinh P, Triệu Nho Đ1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

  1. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s, t khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Hà Văn T 07 (bẩy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/02/2024.

    Căn cứ điểm b, c, p khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Cứ A C3 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm b, d khoản 2 Điều 256; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Cứ A C3 08 (tám) năm tù về tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo C3 phải chịu 16 (mười sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt quả tang 29/02/2024.

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vàng A N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt quả tang 29/02/2024.

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bàn Sinh P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt quả tang 29/02/2024.

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Triệu Nho Đ1 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt quả tang 29/02/2024.

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

    • - Tịch thu tiêu hủy: 6,37gam ma túy loại Heroin và M2; 02 chiếc bật lửa, 01 lọ nhựa, 04 mảnh giấy bạc đã bị cháy, 06 vỏ phong bì, 02 túi nilon nẹp kín một đầu, các mảnh nilon gói, các mảnh giấy bạc, 01 cân tiểu ly.

    • - Tịch thu của bị cáo T số tiền 300.000đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, tịch thu của bị cáo C5 A C1 số tiền 1.420.000đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, để sung nộp Ngân sách Nhà nước.

    • - Tịch thu của bị cáo Đ1 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme, bị cáo P 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo để sung quỹ Nhà nước.

    • - Truy thu của bị cáo C1 số tiền 320.000đồng để sung nộp Ngân sách Nhà nước.

    • - Trả lại cho anh Hà Văn T3 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave.

    • - Trả lại cho bị cáo N 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Blade BKS 21K1-41431 và 01 chứng nhận đăng ký xe đều mang tên Vàng A N; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme.

    • - Trả lại cho bị cáo Đ1 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha loại Exciter BKS 11U1-09642 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Đàm Quang H4.

    • - Trả lại cho bị cáo T 270.000đồng.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản tạm giữ ngày 28/6/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã N và cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghĩa Lộ)

  3. Căn cứ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo Hà Văn T, Cứ A, Vàng A N, Bàn Sinh P, Triệu Nho Đ1 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND TX Nghĩa Lộ;
  • - Nhà tạm giữ;
  • - Công an TX Nghĩa Lộ;
  • - CCTHADS TX Nghĩa Lộ;
  • - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái;
  • - UBND phường Pú Trạng, xã Sùng Đô
  • Nậm Mười (TB);
  • - Bị cáo; người bào chữa; Người có QLNVLQ;
  • - THA HS; Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hồng Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI về mua bán trái phép chất ma túy, chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy, Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger