|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Số: 35/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13/8/2024 V/v: Ly hôn giữa bà T và ông T1 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Qui
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Hạnh
2. Ông Nguyễn Tuyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thuận – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 43/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2024, về "Ly hôn", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/QÐST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Anh T, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Số nhà G đường T, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (có đơn xin vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc T1, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Số nhà A đường A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
+ Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/02/2024 và các lời khai trong qúa trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Anh T trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Quốc T1 đăng ký kết hôn ngày 16/01/2013 tại UBND phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, hôn nhân tự nguyện, không bị ai ép buộc. Từ khi kết hôn với nhau vợ chồng chung sống hạnh phúc được 09 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, cách làm ăn kinh tế, không tôn trọng nhau, thường xuyên cãi nhau. Ông bà đã sống ly thân từ tháng 11 năm 2022 đến nay, mạnh ai nấy sống không ai quan tâm đến ai. Nay tình cảm của bà dành cho ông T1 không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Tú Â, sinh ngày 15/9/2013; Nguyễn Quốc B, sinh ngày 04/02/2019 và Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 25/7/2021, hiện 03 con chung đang ở với bà, khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con chung, bà đủ điều kiện nuôi con, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung, nợ riêng: Không có.
+ Trong qúa trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông T1 không đến Tòa án làm việc và không có văn bản trình bày ý kiến.
Tòa án đã tiến hành phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong qúa trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghỉ nghị án. Về nội dung vụ án: yêu cầu của bà T được ly hôn với ông T1 là có cơ sở chấp nhận; về con chung: Giao 03 con chung Nguyễn Tú Â, sinh ngày 15/9/2013; Nguyễn Quốc B, sinh ngày 04/02/2019 và Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 25/7/2021 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bà T đủ điều kiện nuôi con không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nợ chung, nợ riêng đương sự khai không có nên không đề cập đến.
Về án phí: Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa căn cứ vào ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Bà Trần Anh T khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn với ông Nguyễn Quốc T1, hiện cư trú tại số nhà A đường A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Do vậy, xác định đây là tranh chấp ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn bà Trần Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Quốc T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Anh T và ông Nguyễn Quốc T1 đăng ký kết hôn ngày 16/01/2013 tại UBND phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, hôn nhân tự nguyện, không bị ai ép buộc. Theo bà T trình bày, sau khi kết hôn thì vợ chồng chung sống hạnh phúc được 09 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cách làm ăn kinh tế dẫn đến ông bà thường xuyên tranh cãi, không có hạnh phúc. Bà và ông T1 không thể hàn gắn để về chung sống với nhau, ông bà sống ly thân từ tháng11 năm 2022 đến nay, mạnh ai nấy sống không ai quan tâm đến ai.
Qua xác minh tại địa phương bà T, ông T1 trong quá trình chung sống có xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên tranh cãi do làm ăn khó khăn. Xét thấy tình trạng hôn nhân của bà T và ông T1 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích của hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T là có căn cứ và hợp pháp.
[3]. Về con chung: Bà T và ông T1 có 03 con chung tên Nguyễn Tú Â, sinh ngày 15/9/2013; Nguyễn Quốc B, sinh ngày 04/02/2019 và Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 25/7/2021 hiện các con đang ở cùng bà T. Bà T nguyện vọng nuôi 03 con chung, bà T đủ điều kiện nuôi con, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng, xét 03 con chung đang chung sống cùng bà T nên giao 03 con chung cho bà T trực tiếp chăm sóc là phù hợp.
[4]. Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.
[5]. Về nợ chung, nợ riêng: Đương sự khai không có. Trong quá trình giải quyết không ai có tranh chấp gì nên không xem xét.
[6]. Xét ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
[7]. Về án phí: Bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Áp dụng Điều 51, 56 và Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Áp dụng Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Anh T và ông Nguyễn Quốc T1.
- Về con chung: Giao 03 con chung tên Nguyễn Tú Â, sinh ngày 15/9/2013; Nguyễn Quốc B, sinh ngày 04/02/2019 và Nguyễn Ngọc N, sinh ngày 25/7/2021 cho bà T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn và thay đổi nuôi con được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
- Về án phí: Bà Trần Anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (ly hôn) là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006128 ngày 27/2/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký và đóng dấu) Trần Thị Qui |
Bản án số 35/2024/HNGĐ-ST ngày 13/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 35/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Trần Anh T ly hôn với ông Nguyễn Quốc T1
