Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày: 23-7-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Thanh Trúc
  2. Ông Phạm Văn Phong

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Linh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2024/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tấn C; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1980. Nơi sinh: tỉnh Đồng Tháp; Nơi thường trú: ấp L, xã T, huyện T, Đồng Tháp; Chỗ ở: ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Con ông: Nguyễn Văn L, sinh năm: 1933 (chết) và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1937; Vợ: Dương Thị Phương T, sinh năm 1988 (đã ly hôn); Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2019; Gia đình có 12 anh, chị, em, bị cáo là con thứ 11; Tiền sự, tiền án: Không; Bắt tạm giam: 13/12/2023; Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt tại phiên tòa).

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Tấn C theo luật định: Luật sư Nguyễn Văn D - Văn phòng luật sư Chí C1 - Chi nhánh T11, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ, (có mặt).

Bị hại: Công ty TNHH T12.

Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Phước K, sinh năm 1993; Địa chỉ: Đ, thị trấn N, huyện T, An Giang.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Phước K: Ông Mai Hùng C2, sinh năm 1994 (vắng mặt);

Địa chỉ: Số E, N, Phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người làm chứng:

  1. Trần Văn H, sinh năm 1980; Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện T, Đồng Tháp;
  2. Lê Thị Ánh H1, sinh năm 1973; Địa chỉ: Khóm T, Thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp;
  3. Nguyễn Thị C3, sinh năm 1993; Địa chỉ: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp;
  4. Dương Văn T1, sinh năm 1963; Địa chỉ: Ấp L, xã H, huyện L, Đồng Tháp;
  5. Nguyễn Thị T2, sinh năm 1990; Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện T, Đồng Tháp;
  6. Trần Thanh S, sinh năm 1985; Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp;
  7. Lê Thị Ánh T3, sinh năm 1966; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, Đồng Tháp;
  8. Trương Thị Kim P, sinh năm 1972; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp;
  9. Võ Thị Thu X, sinh năm 1971; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, Đồng Tháp;
  10. Nguyễn Văn M, sinh năm 1983; Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp;
  11. Hà Thị T4, sinh năm 1990; Địa chỉ: Ấp B, xã B, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp;
  12. Trần Văn T5, sinh năm 1970; Địa chỉ: Ấp L, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp;
  13. Lê Tam Q, sinh năm 1987; Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, Đồng Tháp;
  14. Nguyễn Thanh T6, sinh năm 1965; Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, Đồng Tháp;
  15. Nguyễn Thị Ánh N, sinh năm 1971; Địa chỉ: Ấp H, xã H, huyện C, Đồng Tháp;
  16. Phạm Ngọc S1, sinh năm 1993; Địa chỉ: Ấp Vĩnh Bình B, xã V, huyện L, Đồng Tháp;
  17. Lê Văn L2, sinh năm 1958; Địa chỉ: Ấp H, xã L, huyện L, Đồng Tháp;
  18. Nguyễn Văn T7, sinh năm 1961; Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện L, Đồng Tháp;
  19. Đoàn Kế N1, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp Vĩnh Bình B, xã V, huyện L, Đồng Tháp;
  20. Lê Thị Â, sinh năm 1968; Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp;
  21. Phạm Văn N2, sinh năm 1965; Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện L, Đồng Tháp;
  22. Nguyễn Ngọc T8, sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp L, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp;
  23. Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1971; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, Đồng Tháp;
  24. Lê Phước H3, sinh năm 1969; Địa chỉ: Ấp A, xã Đ, huyện L, tỉnh Đồng Tháp;
  25. Trương Văn T9, sinh năm 1980; Địa chỉ: Ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

(Những người làm chứng đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty Trách nhiệm hữu hạn T12 (gọi tắt là Công ty T12) kinh danh trong lĩnh vực phân bón do ông Nguyễn Phước K làm Giám đốc, ông Trần Văn H làm Giám đốc kinh doanh. Khoảng đầu tháng 9/2022, Nguyễn Tấn C được ông H tuyển dụng vào làm cộng tác viên bán hàng nhưng không có hợp đồng lao động, chỉ thỏa thuận miệng, không hưởng lương mà hưởng huê hồng 1.000 đồng/01kg phân bón bán được. Nhiệm vụ, công việc của C là làm cộng tác viên đi thị trường tìm khách hàng là các đại lý, cửa hàng vật tư nông nghiệp chào bán sản phẩm phân bón do Công ty T12 phân phối và làm nhiệm vụ chăm sóc khách hàng trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp và các huyện lân cận ngoài tỉnh. Khi tìm được khách hàng, C viết đơn hàng gồm địa chỉ giao hàng, số lượng phân bón, số tiền phải thanh toán rồi chụp hình đơn hàng gửi qua tin nhắn zalo cho ông H để thông tin cho công ty đi giao hàng.

Hình thức bán hàng của công ty là bán ký gửi đến cuối mùa vụ lúa sẽ đối chiếu công nợ và thu tiền, C không được phân công, giao nhiệm vụ đi thu tiền mua hàng của các đại lý và cửa hàng nhưng C nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của công ty nên khi chưa đến thời hạn thu tiền (chưa đến cuối vụ) thì C đã tự ý đi đến 24 đại lý và cửa hàng vật tư nông nghiệp đối chiếu công nợ và thu tiền. Để khách hàng đồng ý trả tiền cho công ty trước thời hạn, C nói với một số đại lý trả tiền sớm sẽ được chiết khấu phần trăm trong số tiền mà đại lý trả cho C.

Từ khi lên đơn hàng, chốt đơn và giao hàng các đại lý đều chỉ làm việc với C nên khi C đến thu công nợ, ký nhận tiền họ không nghi ngờ vì nghĩ C là người của công ty đi thu nợ nên họ trả, không biết việc C dùng thủ đoạn để chiếm đoạt tiền của công ty.

Kết quả điều tra xác định được từ ngày 11/9/2022 đến ngày 23/12/2022 Nguyễn Tấn C đã tiếp thị chào bán 1.641 bao phân bón các nhãn hiệu DAP Plus, DAP Humic, DAP hữu cơ của Công ty T12 cho các đại lý với tổng số tiền 1.387.850.000 đồng và tự ý thu tiền công nợ chiếm đoạt sử dụng vào mục đích cá nhân 1.161.075.000 đồng. Qua đối chiếu giữa bị cáo C với 24 đại lý, cửa hàng vật tư nông nghiệp và Công ty T12 thống nhất số tiền các đại lý, cửa hàng đã trả cho C. Tuy nhiên, theo thỏa thuận giữa C với Công ty T12 thì C được hưởng huê hồng 1.000 đồng/01kg phân bón chào bán được nên số tiền C được hưởng huê hồng là 82.050.000 đồng (1.641 bao x 50 kg/01 bao = 82.050kg x 1.000 đồng/01kg = 82.050.000 đồng). Đồng thời, trước khi bị tố cáo đến Cơ quan điều tra C đã gửi trả cho công ty I đồng, nên phải trừ những khoản tiền này vào tổng số tiền bị cáo đã thu của 24 đại lý, cửa hàng. Như vậy, số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của Công ty T12 là 989.025.000 đồng.

Tài sản tạm giữ của Nguyễn Tấn C: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy M20. Quá trình điều tra đã trích xuất được hình ảnh những hóa đơn và nội dung tin nhắn trao đổi với ông Trần Văn H liên quan đến số tiền, số lượng hàng hóa mà các đại lý, cửa hàng đặt hàng ký gửi của Công ty T12.

Sau khi Công ty T12 tố giác, C đã nộp cho công ty 23.000.000 đồng. Đại diện Công ty T12 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền còn lại là 966.025.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường, nhưng hiện nay không có điều kiện để khắc phục hậu quả.

Theo cáo trạng số 12/CT-VKSĐT-P1 ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã truy tố Nguyễn Tấn C về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn C phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn C từ 12 đến 14 năm tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo C.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý tài sản thu giữ đề nghị Toà tuyên như phần quyết định của bản cáo trạng đã nêu.

Luật sư Nguyễn Văn D bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm thống nhất với quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh và điều khoản của tội danh áp dụng đối với bị cáo C. Vị luật sư cũng viện dẫn về nguyên nhân, ý thức, điều khiện phạm tội của bị cáo đồng thời nêu ra các tình tiết giảm nhẹ như: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã khắc phục bồi thường một phần thiệt hại cho Công ty T12; Gia đình bị cáo có công với Cách mạng, ông ngoại, bác ruột, cha ruột, chú ruột của bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bản thân bị cáo được Chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú tặng Giấy khen vì có thành tích trong phòng trào T10 dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá. Bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi mẹ già và 03 con nhỏ. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, thống nhất với lời bào chữa của vị luật sư, không bào chữa bổ sung. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về phụng dưỡng mẹ già, chăm sóc các con, làm trả nợ cho bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Đối với bị hại và những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy những người này đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Trong quá trình điều tra đã có lời khai rõ ràng và sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, căn cứ các Điều 292; Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[3] Xét nội dung vụ án: Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Tấn C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo khẳng định hành vi phạm tội được nêu trong bản cáo trạng số 12/CT-VKSĐT-P1 ngày 06 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp là đúng với hành vi của bị cáo. Bị cáo là cộng tác viên của Công ty T12 có nhiệm vụ đi giới thiệu chào bán sản phẩm là phân bón do Công ty T12 phân phối và chăm sóc khách hàng nhưng trong thời gian là cộng tác viên, bị cáo đã giới thiệu, lập đơn hàng bán cho 24 đại lý, cửa hàng vật tư nông nghiệp là 1.641 bao phân bón DAP các loại. Sau đó bị cáo tự ý đến thu tiền công nợ của các đại lý và cửa hàng trước thời hạn mà chưa được sự đồng ý và phân công của Công ty T12, đã chiếm đoạt của Công ty T12 số tiền 989.025.000 đồng sử dụng vào mục đích cá nhân.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, những người làm chứng cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn C đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự.

Tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. ....

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. ”

[4] Bị cáo là người đã trưởng thành, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo hoàn toàn có thể nhận thức được hành vi của mình, biết rất rõ hành vi nào là đúng pháp luật, hành vi nào trái pháp luật trong quan hệ xã hội. Đồng thời, bị cáo cũng là người có đầy đủ sức khỏe và việc làm ổn định để lao động nuôi sống bản thân và gia đình. Chỉ vì động cơ tư lợi, muốn nhanh chóng có được nhiều tiền để tiêu xài nên bị cáo đã có hành vi tự ý đến thu tiền công nợ của các đại lý và cửa hàng trước thời hạn mà chưa được sự đồng ý và phân công của Công ty T12, đã chiếm đoạt của Công ty T12 số tiền 989.025.000 đồng sử dụng vào mục đích cá nhân. Còn đối với các đại lý và cửa hàng, từ khi lên đơn hàng, chốt đơn và giao hàng, các đại lý đều chỉ làm việc với C nên khi C đến thu công nợ, ký nhận tiền họ không nghi ngờ vì nghĩ C là người của công ty đi thu nợ nên họ trả, không biết việc C dùng thủ đoạn để chiếm đoạt tiền của công ty.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mang tính chất đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của bị hại một cách trái pháp luật, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Khi thực hiện hành vi, bị cáo thừa biết hành vi của mình là trái pháp luật và sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Chứng tỏ hành vi của bị cáo là cố ý trực tiếp và tội phạm đã hoàn thành. Đối với bị cáo cần phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Do bị cáo nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội mà mỗi lần đều đủ định lượng theo luật định nên bị cáo phải chịu trách nhiệm với tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã khắc phục bồi thường một phần thiệt hại cho Công ty T12. Gia đình bị cáo có công với Cách mạng, ông ngoại, bác ruột, cha ruột, chú ruột của bị cáo được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Bản thân bị cáo được Chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú tặng Giấy khen vì có thành tích trong phòng trào T10 dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá. Bị cáo là lao động chính trong gia đình nuôi mẹ già và 03 con nhỏ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt theo pháp luật quy định.

Về hình phạt bổ sung: Do gia đình của bị cáo hiện tại đang gặp khó khăn về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản của tội danh, mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo cũng như đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ nên chấp nhận.

Xét lời bào chữa của vị luật sư bào chữa cho bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.

[8] Về phần trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền chiếm đoạt là 989.025.000 đồng nhưng trừ đi 23.000.000 đồng bị cáo đã bồi thường, còn lại là 966.025.000 đồng. Xét yêu cầu của phía bị hại là có căn cứ. Bị cáo Nguyễn Tấn C thống nhất bồi thường theo yêu cầu của bị hại nên ghi nhận sự tự nguyện này của bị cáo. Theo đó, bị cáo Nguyễn Tấn C phải có trách nhiệm bồi thường cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn T12 số tiền 966.025.000 đồng.

[9] Về tài sản thu giữ: Đối với 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy M20 (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong) của Nguyễn Tấn C là công cụ dùng vào việc phạm tội, xét thấy cần phải tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[10] Đối với 24 đại lý, cửa hàng vật tư nông nghiệp, tất cả đều không biết việc C tự ý thu tiền để chiếm đoạt tài sản của Công ty T12, họ trả tiền cho C là do đã gặp và trực tiếp trao đổi mua bán phân bón với C, nên nghĩ C là người được công ty giao đi thu tiền về nộp lại cho công ty. Quá trình điều tra, giữa 24 đại lý, cửa hàng với đại diện Công ty T12 đã thỏa thuận xong việc thanh toán công nợ, Công ty T12 không yêu cầu gì thêm đối với các đại lý, cửa hàng này. Số tiền nợ còn lại của các đại lý, cửa hàng khác (C chào bán sản phẩm), Công ty T12 cam kết sẽ tự đi thu và giải quyết với họ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tấn C phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Căn cứ vào khoản 4 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn C 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 13/12/2023.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; 589 Bộ luật dân sự;

Buộc bị cáo Nguyễn Tấn C phải có trách nhiệm bồi thường cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn T12 số tiền 966.025.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên, thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chưa thi hành án cho đến khi thi hành án xong.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động Samsung Galaxy M20 (Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Tấn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 40.980.750 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án văn hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - Cơ quan điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Đồng Tháp;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy Đồng Tháp;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đồng Tháp;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp;
  • - Bị cáo; Bị hại; NBC;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA.TA tỉnh Đồng Tháp;
  • - Lưu: HSVA (Châu).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Khắc Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger