Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN DI LINH

TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày 20 tháng 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Cường Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Văn Phương và ông Đào Duy Trâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thùy Lương - Thư Ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Cường – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2024/HSST ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/HSST-QĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/HSST-QĐ, ngày 09/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Quang T; Sinh năm 2004 tại Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay xóm B, thôn E, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hóa (học vấn) 9/12; dân tộc Kinh; giới tính Nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Lê Văn H; sinh năm 1977, con bà Trần Thị L; sinh năm 1983; tiền án: không có; tiền sự: không có; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/01/2024 đến ngày 26/01/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Đặng Huy T1; sinh năm 2000, có mặt tại phiên tòa. Địa chỉ thôn A xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
  2. Anh Ngô Văn K; sinh năm 1993, có mặt tại phiên tòa. Địa chỉ: Thôn H, xã G, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 16/01/2024, một người tên V (không rõ tên tuổi, địa cụ thể) gọi điện thoại cho bị cáo Lê Quang T nói V còn 06 hộp pháo hoa nổ, loại 49 viên bán với với giá 7.000.000 đồng. Bị cáo T đồng ý mua và thống nhất, V gửi pháo vào bằng xe khách, khi nhận hàng thì bị cáo trả tiền cho xe khách. Sau đó, V gói pháo hoa bằng hộp giấy, bọc kín ghi thông tin và số điện thoại của bị cáo T rồi gửi xe đến địa chỉ nhận pháo tại “Ngã 3 H" thuộc xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Chiều ngày 17/01/2024, Bị cáo T ra ngã ba H nhận hàng và đưa cho người đàn ông phụ xe số tiền là 7.000.000 đồng sau đó mang thùng hàng về nhà để kiểm tra có 06 hộp pháo hoa. Đến đêm ngày 17/01/2024, bị cáo lấy 01 hộp pháo hoa để đốt, còn lại 05 hộp pháo bị cáo cất giữ ở nhà. Do để ở nhà sợ gia đình biết nên đầu giờ chiều ngày 18/01/2024, T nhờ anh Đặng Huy T1 chở qua xã H giải quyết việc cá nhân chứ không nói rõ là việc gì, T1 đồng ý chở thì T bỏ 05 hộp pháo còn lại vào bao tải màu xanh, rồi bỏ vào balo màu đen mục đích mang đi cất giấu ở nơi khác. Sau đó T1 đến chở T đi tìm nơi cất giấu, khi đang đi đến khu vực thôn B, xã H thì cơ quan Công an phát hiện, lập biên bản phạm tội quả tang đối với Lê Quang T (BL:19-21).

Vật chứng thu giữ: 01 xe mô tô BKS: 49G1 – 496.21; 01 điện thoại di động, có in chữ SamSung (đối với xe mô tô và điện thoại này Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng bằng cách trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Đặng Huy T1); 05 khối hình hộp chữ nhật, trong đó 03 hộp “4049”, 02 hộp “AY04- 23-001”; 01 túi màu đen; 01 bao tải màu xanh đối với những vật chứng này cần chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự để đảm bảo cho việc truy tố, xét xử và thi hành án sau này (BL: 19-23, 39,76).

Tại bản Kết luận giám định số: 140/KL-KTHS ngày 25/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L, kết luận: Năm (05) khối hình hộp chữ nhật (trong đó 03 hộp “4049”, 02 hộp “AY04-23-001”), bên trong mỗi khối chứa bốn mươi chín (49) viên hình trụ tròn, mỗi viên đường kính 2,3 cm cao 10 cm gửi giám định là Pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo, khi đốt gây tiếng nổ). Tổng khối lượng là 8.1kg. (BL: 42)

Quá trình điều tra Lê Quang T đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình. Từ những căn cứ nên trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh ban hành Cáo trạng số 38/CT-VKS ngày 10/4/2024 truy tố bị cáo Lê Quang T, để xét xử về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tại phiên tòa:

3

Sau khi công bố bản cáo trạng đại diện Viện kiểm sát trình bày: Giữ nguyên quan điểm đã truy tố như bản Cáo trạng. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s, khoản 1 và khoản 2, Điều 51, Điều 35, của Bộ luật hình sự năm 2015. Áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, xử phạt bị cáo Lê Quang T từ 50 đến 60 triệu đồng, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về phần xử lý vật chứng và phần án phí.

Bị cáo trình bày: Việc áp dụng Điều luật và đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát thì bị cáo thống nhất, không có ý kiến tranh luận. Hành vi tàng trữ pháo nổ của bị cáo như nội dung bản Cáo trạng là đúng, bị cáo đã biết sai. Trong quá trình chuẩn bị xét xử, bị cáo có nộp đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn, tuy nhiên bị cáo không có sổ hộ nghèo hay giấy tờ gì khác để chứng minh cho việc gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn cả. Đúng là nội dung xác nhận của Chủ tịch UBND xã H trong đơn trình bày hoàn cảnh của bị cáo, chỉ xác nhận về nhân thân của bị cáo chứ không xác nhận về điều kiện kinh tế của gia đình bị cáo. Bị cáo mua số pháo nói trên với giá 7.000.000đ, mục đích mua về chỉ để đốt, vui ngày Tết.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đặng Huy T1 trình bày: Khi bị cáo T nhờ chở đi cất giấu pháo, thì T không nói rõ chở vật gì. Vì là bạn nên đồng ý chở đi, không biết vật trong túi là pháo. Xe máy biển kiểm soát 49G1 – 496.21 là xe mượn của anh rể Ngô Văn K. Anh T1 đã nhận lại điện thoại S, không có ý kiến gì cả.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Ngô Văn K trình bày: Xe máy biển kiểm soát 49G1 – 496.21 là tài sản của anh. Khi xe máy của anh T1 bị hỏng thì có hỏi mượn xe máy biển kiểm soát 49G1 – 496.21. Anh không biết việc anh T1 dùng xe này để chở bị cáo T đi cất giấu pháo. Anh đã nhận lại xe, không có ý kiến yêu cầu bồi thường gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại gì. Do đó các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.

[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo:

Vào ngày 18/01/2024, tại khu vực thôn B, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, bị cáo Lê Quang T đã có hành vi tàng trữ hàng cấm là năm (05) khối hình hộp chữ nhật (trong đó 03 hộp “4049”, 02 hộp “AY04-23-001”), bên trong mỗi khối chứa bốn mươi chín (49) viên hình trụ tròn, mỗi viên đường kính 2,3 cm cao 10 cm.

4

Tổng khối lượng là 8.1kg. Tại bản Kết luận giám định số 140/KL-KTHS ngày 25/01/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh L, kết luận: Năm (05) khối hình hộp chữ nhật (trong đó 03 hộp “4049”, 02 hộp “AY04-23-001”), bên trong mỗi khối chứa bốn mươi chín (49) viên hình trụ tròn, mỗi viên đường kính 2,3 cm cao 10 cm gửi giám định là Pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo, khi đốt gây tiếng nổ). Tổng khối lượng là 8.1kg. Tại điểm c khoản 1 Điều 191 của bộ luận Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định:

“1. Người nào tàng trữ, vận chuyển hàng cấm thuộc một trong các trường hợp sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234,239, 244, 246, 249, 250, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

c) Pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;"

Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi của bị cáo Lê Quang T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh truy tố là đúng người vi phạm, đúng tội danh và không oan sai.

[3] Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[3.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3.2] Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết xem xét giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm i, s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng tình tiết trên để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện tính khoan hồng của nhà nước và pháp luật Việt Nam.

[3.3] Về nhân thân: Căn cứ vào trích lục tiền án, tiền sự của Phòng PV06 Công an tỉnh L thể hiện, bị cáo không có tiền án tiền sự.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Nhận thấy trước và trong các diệp Lễ, Tết các cơ quan chức năng thường xuyên tuyên truyền phổ biến về việc không tàng trữ, vận chuyển, không đốt các loại pháo nổ làm mất trật tự trị an tại địa phương, gây nguy hiểm cháy nổ và các tai nạn thương tích khác. Tuy nhiên bị cáo vẫn bất chấp, ý thức kém, xem thường trật tự quản lý xã hội. Tuy nhiên, bản thân bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú ổn định, Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đã đủ răn đe và phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử đã nhận định áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

5

[5] Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử cần trả lại cho chủ sở hữu 01 xe mô tô BKS: 49G1 – 496.21; 01 điện thoại di động, có in chữ SamSung (đã trả lại cho chủ sở hữu); Tịch thu tiêu hủy 01 túi màu đen; 01 bao tải màu xanh, theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an D và cơ quan thi hành án Dân sự huyện D ngày 10/4/2024. Cơ quan thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Lâm Đồng phối hợp các cơ quan hữu quan thành lập hội đồng tịch thu tiêu hủy 05 khối hình hộp chữ nhật, trong đó 03 hộp “4049”, 02 hộp “AY04- 23-001” (tang vật đang lưu giữ tại kho tang vật của bộ chỉ huy quân sự tỉnh L).

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được kháng cáo bản án theo các Điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[8] Các vấn đề khác. Đối với hành vi của anh Đặng Huy T1 và anh Ngô Văn K, không biết bị cáo mang pháo nổ nên không đủ căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự là phù hợp.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thấy rằng. Theo nội dung bản Cáo trạng và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát xác định bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn, có xác nhận của trưởng thôn và Chủ tịch UBND xã H. Nên có đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử nhận thấy. Bị cáo không có sổ hộ nghèo hay giấy tờ gì khác để chứng minh cho việc gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn. Nội dung xác nhận của Chủ tịch UBND xã H trong đơn trình bày hoàn cảnh của bị cáo, chỉ xác nhận về nhân thân của bị cáo chứ không xác nhận về điều kiện kinh tế của gia đình bị cáo. Ngoài ra, tại phiên tòa bị cáo thừa nhận chi ra số tiền 7.000.000đ mua pháo, mục đích mua về chỉ để đốt, vui ngày Tết là việc làm lãng phí, mâu thuẫn với lời trình bày hoàn cảnh khó khăn của bị cáo. Vì thế, Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo. Các đề nghị khác của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lê Quang T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 50, Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Xử phạt bị cáo Lê Quang T 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) để nộp sung vào ngân sách nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

6

  1. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
    1. Trả lại cho anh Ngô Văn K 01 xe mô tô BKS: 49G1 – 496.21 (đã trả lại cho chủ sở hữu);
    2. Trả lại cho anh Đặng Huy T1 01 điện thoại di động, có in chữ SamSung (đã trả lại cho chủ sở hữu);
    3. Tịch thu tiêu hủy 01 túi màu đen; 01 bao tải màu xanh. Tang vật có đặc điểm như biên bản giao nhận giữa Công an huyện D, tỉnh Lâm Đồng và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.
    4. Tịch thu tiêu hủy 05 khối hình hộp chữ nhật, trong đó 03 hộp “4049”, 02 hộp “AY04- 23-001” (vật chứng này đang lưu giữ tại kho tang vật của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh L theo lệnh nhập kho Số 02/VC/LNK-2024, ngày 01/02/2024 của Bộ chỉ huy quân sự tỉnh L).
  2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Lê Quang T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Quang T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Ngô Văn K và anh Đặng Huy T1 có mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, người có QLNVLQ;
  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND huyện Di Linh;
  • - Công an huyện Di Linh;
  • - Chi cục THADS huyện Di Linh;
  • - Bộ CHQS tỉnh Lâm Đồng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - UBND xã Hòa Bắc;
  • - Lưu án văn, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Bá Cường Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 20/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về tàng trữ hàng cấm (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ hàng cấm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger