Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN CHÂU

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày 19-06-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cầm Thị Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Luân và Ông Đỗ Tiến Hiệt.

- Thư ký phiên toà: Ông Lường Văn Dục - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Phương Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 06 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 06 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn T (Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày 06/3/2005 tại huyện M, tỉnh Hà Giang; Nơi cư trú: Thôn P, xã S, huyện M, tỉnh Hà Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Hoàng Văn T1 và bà Nùng Thị Ì; Bị cáo chưa có vợ con. Bị cáo có 02 anh em, là còn thứ nhất trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/2/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bị hại: Anh Quàng Tiến D - Sinh ngày 17/11/ 2006; Nơi cư trú: Bản M, xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Đại diện hợp pháp cho người bị hại: Ông Quàng Văn L (bố đẻ). Nơi cư trú: Bản Mường Lựm, xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.

* Người làm chứng: Anh Hoàng Vĩnh T2- sinh năm 2008; Nơi cư trú: Bản M, xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Đại diện hợp pháp cho người làm chứng: Ông Hoàng Văn T3 (bố đẻ). Nơi cư trú: Bản Mường Lựm, xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ ngày 07/2/2024, tại bản Nà Lắng, xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La. Do có mâu thuẫn cá nhân trong lúc uống rượu giữa Hoàng Văn TQuàng Tiến D, Hoàng Vĩnh T2, nên Hoàng Văn T có hành vi sử dụng 01 con dao dài 42 cm, một lưỡi sắc, mũi dao bằng (hung khí nguy hiểm) chém 01 phát từ trên xuống dưới từ phải qua trái trúng vào mặt trái của Quàng Tiến D. Hậu quả Quàng Tiến D bị thương phải điều trị tại Bệnh viện Đa khoa huyện T, huyện M, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 06% (Sáu phần trăm). Ngày 07/2/2024 ông Quàng Văn L (bố của Quàng Tiến D) có đơn trình báo nội dung đề nghị Công an huyện Y xử lý giải quyết vụ việc.

Ngày 07/2/2024 Hoàng Văn T đến Công an xã M, huyện Y đầu thú về hành vi của mình và giao nộp vật chứng: 01 con dao dài 42cm, một lưỡi sắc, mũi dao bằng. Lưỡi kim loại màu nâu dài 28,8 cm, bản rộng nhất 4,5 cm, bản hẹp nhất 3cm. Cán dao bằng nhựa màu trắng dạng trụ tròn, đường kính 3cm, dài 13,2 cm, dao đã qua sử dụng, không có dấu vết máu.

Ngày 07/02/2024, Cơ quan CSĐT- Công an huyện Y phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường vụ Cố ý gây thương tích xảy ra tại bản Nà Lắng, xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La. Vụ việc xảy ra tại đường liên xã M, Y và xã T, M thuộc bản N, xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La, là mặt đường trải nhựa bằng phẳng, dốc lên 7%. Trên mặt đường của đường liên xã phát hiện đám màu nâu nhỏ giọt (nghi là máu) trên diện kích thước 1,1m x 0,4m, đo từ tâm đến mép đường phải là 0,45m, đo đến mép đường trái là 4,55m, đo đến tâm cổng nhà Hoàng Văn B là 7,2 m.

Ngày 07/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số: 59/QĐ-HS trưng cầu Trung tâm pháp y tỉnh S giám định cơ chế hình thành vết thương và tỷ lệ tổn thương trên thân thể của Quàng Tiến D.

Ngày 15/02/2024, Trung tâm giám định pháp y tỉnh S có kết luận giám định số 47/TgT kết luận giám định pháp y về thương tích đối với Quàng Tiến D, cụ thể: Xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định là 06%. Cơ chế hình thành thương tích: Thương tích vết thương phần mềm vùng mặt bên trái do tác động trực tiếp của vật sắc, diện tiếp xúc giới hạn gây ra. Vết thương phần mềm vùng mặt bên trái của Quàng Tiến D không nằm trong vị trí trọng yếu của cơ thể, với vết thương này nếu không được cấp cứu khâu cầm máu kịp thời bệnh nhân có thể tử vong do mất máu cấp.

Đối với thương tích của Hoàng Văn T, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã ra quyết định trưng cầu giám định nhưng Hoàng Văn T từ chối vì thương tích nhẹ không đáng kể. Việc từ chối giám định là tự nguyện, không bị ép buộc.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận: Do có mối quan hệ quen biết với nhau từ năm 2023 nên ngày 05/02/2024, Hoàng Văn T đến nhà Hà Trọng K sinh năm 2007, trú tại bản Nà Lắng, xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La chơi. Tối ngày 06/02/2024, T cùng gia đình K ăn cơm, uống rượu, sau đó KT tiếp tục đi đến trung tâm xã M uống bia. Đến khoảng 00 giờ ngày 07/02/2024 thì cả hai quay lại nhà K tiếp tục uống rượu cùng một số người bạn của K. Đến khoảng 02 giờ cùng ngày Quàng Tiến D sinh năm 2006 và Hoàng Vĩnh T2 sinh năm 2008, cùng trú tại bản Mường Lựm, xã M, huyện Y đến cùng tham gia. Do T2 mời rượu nhưng bị T từ chối nên hai bên nảy sinh mâu thuẫn. Đến khoảng 03 giờ ngày 07/02/2024, T đi đến nhà bà Hà Thị N, trú tại bản Nà Lắng, xã M chơi, T2D đi theo phía sau T. Khi đến nhà bà N, tại gian bếp T bị T2 dùng tay phải kẹp cổ từ phía sau giữ lại, DT2 dùng tay phải đấm nhiều lần vào vùng mặt của T, sau đó DT2 bỏ chạy ra hướng đường dân sinh. Bị đánh T bực tức đuổi theo ra ngoài, đến cửa nhà T thấy có 01 con dao đang để trước cửa nhà nên T cầm dao bằng tay phải đuổi theo DT2, mục đích là để gây thương tích cho DT2. Khi đuổi ra đến đường dân sinh bên ngoài nhà bà N khoảng 30m thì T thấy DT2 đang nói chuyện với Hoàng Văn D1 sinh năm 2000, trú tại bản Mường Lựm, xã M, huyện Y, T cầm dao lao về phía D chửi: “ Chúng mày đánh tao xong chạy à?”, D thấy vậy cũng lao về phía T, T cầm dao bằng tay phải chém theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái trúng vùng mặt bên trái của D, D cũng dùng chân phải đạp vào vùng bụng của T khiến T lùi lại phía sau, sau đó D ôm mặt bỏ chạy về nhà Hà Trọng K và được gia đình đưa đến Bệnh viện Đ, huyện M chữa trị. Sau khi gây thương tích cho Quàng Tiến D, Hoàng Văn T mang theo con dao cất giấu bên trong áo khoác ngoài rồi đi đến khu vực hồ M bỏ trốn. Đến khoảng 07 giờ sáng ngày 07/02/2024, T được Công an huyện Y vận động ra đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi và giao nộp con dao đã dùng để gây thương tích cho Quàng Tiến D.

Đối với Quàng Tiến DHoàng Vĩnh T2 đã có hành vi dùng tay phải đánh gây thương tích vào vùng đầu của Hoàng Văn T. Tuy nhiên, Hoàng Văn T từ chối giám định nên không xác định được tỷ lệ tổn thương cơ thể. Vì vậy, hành vi của Quàng Tiến DHoàng Vĩnh T2 không đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích, nên cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Y không đặt vấn đề xử lý về hình sự. Ngày 03/4/2024 Cơ quan CSĐT- Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Quàng Tiến D mức phạt là 3.250.000đ. Đối với Hoàng Vĩnh T2 bằng hình thức cảnh cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Quàng Tiến D yêu cầu Hoàng Văn T bồi thường số tiền 15.000.000 đồng là chi phí chữa trị, tổn hại sức khỏe và các chi phí liên quan.

Tại cáo trạng số 10/CT-VKSYC ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Châu để xét xử Hoàng Văn T về tội Cố ý gây thương tích, theo quy định tại điểm a khoản 1 điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội đối với các bị cáo, sau khi phân tích nội dung vụ án, các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong quá trình điều tra, cũng như diễn biến tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Bộ luật Hình sự; Khoản 1 Điều 584, 585, 586, 587 Bộ luật dân sự. Xử phạt Hoàng Văn T từ 12 tháng - 18 tháng tù.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy vật chứng liên quan.

Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại Quàng Tiến D số tiền 15.000.000đ.

Bị cáo được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Đại diện bị hại và bị hại Quàng Tiến D có ý kiến: Giữ nguyên yêu cầu đề nghị bị cáo Hoàng Văn T phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại Quàng Tiến D số tiền 15.000.000đ. Ngoài ra không còn yêu cầu nào khác.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo; người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.
  2. [2] Về tình tiết định tội, định khung hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

    Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Đơn đề nghị, lời khai của người bị hại về việc bị Hoàng Văn T gây nên thương tích cho mình; phù hợp với các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị cáo về thời gian, địa điểm, diễn biến việc thực hiện hành vi phạm tội, kết luận giám định, lời khai người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ.

    Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 07/2/2024 tại khu vực bản N, xã M, huyện Y, tỉnh Sơn La do mâu thuẫn cá nhân trong lúc uống rượu trước đó nên Hoàng Văn T đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm (01 con dao dài 42cm, một lưỡi sắc dài 28,8 cm, mũi dao bằng) chém 01 phát từ trên xuống dưới từ phải qua trái trúng vào mặt trái của Quàng Tiến D gây tỉ lệ tổn thương cơ thể là 06%.

    Hành vi của Hoàng Văn T đã phạm vào tội Cố ý gây thương tích, với tình tiết định khung được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

  3. [3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Văn T là ít nghiêm trọng, thuộc trường hợp phạm tội lần đầu. Bị cáo nhận thức được việc gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì mâu thuẫn cá nhân bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương.

    Trong vụ án này hành vi gây thương tích cho anh Quàng Tiến D xuất phát từ việc mẫu thuẫn cá nhân, một phần nguyên nhân xuất phát từ lỗi của người bị hại Quàng Tiến D và người làm chứng Hoàng Vĩnh T2 đã đánh bị cáo trước, dẫn đến hành vi mất kiểm soát của bị cáo.

    Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Châu truy tố và Tòa án nhân dân huyện Yên Châu xét xử bị cáolà đúng người, đúng tội, không oan sai cho các bị cáo.

  4. [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

    Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi sự việc bị phát hiện đã tự giác đầu thú, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng do vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, không có tiền án, tiền sự.

    Mặt khác bị cáo phạm tội do một phần lỗi của người bị hại. Vì vậy cần căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo để Hội đồng xét xử xem xét quyết định một mức hình phạt phù hợp, nhằm trừng phạt, cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật, răn đe, phòng ngừa và thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương và phù hợp với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.

  5. [5] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy bị cáo chưa bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại. Nay bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường về sức khỏe cho mình số tiền 15.000.000đ, bị cáo đồng ý không có ý kiến khác. Căn cứ khoản 1 Điều 584, 585, 586, 587 BLDS buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000đ.
  6. [6] Về vật chứng vụ án: Xét thấy vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự
  7. [7] Về vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với hành vi của Quàng Tiến D, Hoàng Vĩnh T2 không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vi phạm điểm a, khoản 5, Điều 7 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Ngày 27/12/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Quàng Tiến D mức phạt là 3.250.000đ. Hình thức cảnh cáo Đối với Hoàng Vĩnh T2 là đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
  8. [8] Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  9. [9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
  10. [10] Thời hạn tạm giam còn lại của bị cáo dưới 45 ngày, cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 329 BLTTHS 2015.
  11. [11] Về đề nghị của Kiểm sát viên: Đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt và các vấn đề liên quan khác là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Khoản 1 Điều 584, 585, 586, 587 BLDS;

    Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích.

    Xử phạt Hoàng Văn T 13 (mười ba) tháng tù - Thời hạn tù tính từ ngày 07/02/2024.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 587 Bộ luật dân sự; Điều 48 Bộ luật hình sự 2015: Buộc bị cáo Hoàng Văn T phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho người bị hại Quàng Tiến D số tiền 15.000.000đ.

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền, thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án cho đến khi thi hành xong.

  3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy: “01 con dao dài 42cm, một lưỡi sắc, mũi dao bằng. Lưỡi kim loại màu nâu dài 28,8 cm, bản rộng nhất 4,5 cm, bản hẹp nhất 3cm. Cán dao bằng nhựa màu trắng dạng trụ tròn, đường kính 3cm, dài 13,2 cm, dao đã qua sử dụng".

    Theo Biên Bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/4/2024 số 33/BB-CCTHADS giữa Công an huyện Y và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Châu.

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 21, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

    Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Văn T.

  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA
PHIÊN TÒA

Cầm Thị Thanh Huyền

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Sơn La;
  • - VKSND Tỉnh Sơn La:
  • - VKSND huyện Yên Châu;
  • - Công an huyện Yên Châu;
  • - Trại giam;
  • - THA hình sự;
  • - Chi cục THADS;
  • - Sở TP;
  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại; Đại diện bị hại ;
  • - Người làm chứng; Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cầm Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 19/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN CHÂU, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Hoàng Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger