|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-TP.HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2024/HS-ST Ngày 19/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-TP . HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
Các Hội thẩm nhân dân : Ông Kiều Xuân Mai
Ông Trần Văn Khánh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mê Linh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Mai- Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 36/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Thị Lệ V, sinh năm 1970 tại Hà Nội. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã K, huyện M, Hà Nội; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá : Lớp 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Đình K (đã chết) và bà Vũ Thị Lan H; có chồng là Đặng Quốc B (đã chết) và 02 con lớn sinh năm 1988, nhỏ sinh năm 1990 (đã chết); tiền án, tiền sự, nhân thân: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/01/2024 đến ngày 17/01/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-Chị Đàm Thị T, sinh năm 1996, vắng mặt
Nơi ĐKHKTT: Minh T1, Nghĩa M, N, Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: T, Đ, M, Hà Nội.
-Anh Trần Văn H1, sinh năm 1980, vắng mặt
Địa chỉ: T, D, Đ, Hà Nội.
-Anh Đặng Thái S, sinh năm 1988, có mặt.
Địa chỉ: Tổ A, phường H, thành phố P, Vĩnh Phúc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 13/01/2024, Trần Văn H1 và Trần Mạnh H2 đang ngồi chơi uống nước với nhau thì nảy sinh ý định mua dâm nên cả 02 cùng nhau đi đến quán T3 ở thôn P, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội của Đặng Thị Lệ V. Khi đến nơi, H1 và H2 đi vào ngồi uống nước cùng V tại bàn ở sân quán. Trong lúc nói chuyện, H1 nói với V “chị có nhân viên nào không cho em chén cái” (ý H1 là hỏi đặt vấn đề mua dâm) thì V chỉ vào Vũ Thị T2 là nhân viên tại quán T3 và hỏi “em này được không?” thì H1 không đồng ý do nhân viên này xấu. Sau đó, V điện thoại cho Đàm Thị T là nhân viên quán T4 ở thôn T, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội nói với T “Có khách đi ngoài đấy, con có đi được không, đến quán G nhé” (T hiểu là V bảo T đi bán dâm cho khách và hẹn gặp ở quán T3) thì T đồng ý rồi gọi xe taxi đi đến quán T3. Sau khi V gọi điện cho T, H1 hỏi V giá mua dâm là bao nhiêu V nói là 1.000.000đ, H1 đồng ý và đưa cho V 1.500.000đ gồm 03 tờ tiền mệnh giá 500.000đ và nói “tiền mua dâm và bồi dưỡng thêm tiền công nhé”, V cầm số tiền trên và cất giấu vào túi xách. Khi T đến quán T3, T gặp V, H1 và H2. Lúc này, V đưa cho T chìa khóa xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, sơn màu xám, biển kiểm soát: 29AB-758.62 và nói “khách đây, con cứ đi đi, cô thu tiền rồi”, T hiểu V đã thu tiền của khách mua dâm nên T cầm chìa khóa xe và điều khiển xe mô tô trên chở H1 đến nhà trọ M1 ở thôn P, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội để bán dâm. Khi T và H1 đến nhà trọ Mai A được Giàng A C cho thuê phòng 201 của nhà trọ. Sau khi thuê được phòng trọ, H1 và T lên phòng 201 để thực hiện hành vi mua bán dâm. Khi các đối tượng đang thực hiện hành vi mua bán dâm thì tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện H1 và T đang mua bán dâm. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản kiểm tra hành chính, thu giữ các đồ vật liên quan và đưa các đối tượng về trụ sở làm việc. Tại trụ sở Cơ quan Công an, Đàm Thị T, Trần Văn H1 và Đặng Thị Lệ V đã khai nhận hành vi vi phạm.
Cơ quan điều tra đã thu giữ của V: 01 điện thoại Iphone 11 Promax và số tiền 1.950.000đ. Thu giữ của T 01 điện thoại Oppo và 01 xe máy nhãn hiệu Vision BKS 29AB-758.62 và thu giữ của H1 số tiền 200.000đ.
Đối với hành vi “bán dâm” của Đàm Thị T đã vi phạm khoản 1 Điều 25 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Công an huyện M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đàm Thị T theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi “mua dâm” của Trần Văn H1 đã vi phạm khoản 1 Điều 24 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Công an huyện M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Văn H1 theo quy định của pháp luật.
Đối với Ngô Thị O là chủ cơ sở kinh doanh nhà trọ, O không biết việc các đối tượng T và H1 sử dụng phòng thuê của nhà trọ để thực hiện hành vi mua bán dâm, nên không đề cập xử lý. Tuy nhiên, khi các đối tượng T, H1 đến thuê phòng trọ, không xuất trình giấy tờ tùy thân nhưng O vẫn để cho Giàng A C cho các đối tượng thuê phòng nghỉ, đã vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. Công an huyện M đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Ngô Thị O theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận đúng như nội dung vụ án đã tóm tắt trên. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Bản cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 01/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh truy tố Đặng Thị Lệ V, về tội “ Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội “ Môi giới mại dâm” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 328; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Đặng Thị Lệ V mức án từ 09 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Về tang vật chứng: Trả lại bị cáo 01 xe máy và số tiền 450.000đ. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 02 điện thoại và số tiền 1.700.000đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Khoảng 12h30' ngày 13/01/2024, tại nhà T ở thôn P, xã T, huyện M, Hà Nội, Đặng Thị Lệ V đã có hành vi môi giới Đàm Thị T bán dâm cho Trần Văn H1 để thu lời bất chính. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Môi giới mại dâm”, tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo khoản 1 Điều 328 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng và nếp sống lành mạnh, văn minh cũng như đạo đức xã hội chủ nghĩa. Do đó, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ mà Bộ luật hình sự đã quy định.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Căn cứ vào tính chất vụ án, loại tội bị cáo vi phạm là tội ít nghiêm trọng, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, chồng và con gái bị cáo đều đã chết, hiện bị cáo phải chăm sóc 02 cháu ngoại
còn nhỏ là những tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng nên thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
[3]. Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M có thu giữ của bị cáo 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision BKS 29AB-758.62, 01 điện thoại Iphone 11 Promax và số tiền 1.950.000đ. Thu giữ của Đàm Thị T 01 điện thoại Oppo và thu giữ của Trần Văn H1 số tiền 200.000đ. Xét số tang vật trên: Đối với 02 điện thoại là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền 1.950.000đ thu giữ của bị cáo trong đó có 1.500.000đ là tiền H1 trả tiền mua dâm cho bị cáo nên số tiền này tịch thu sung quỹ Nhà nước, số tiền còn lại 450.000đ là tiền thu nhập hợp pháp của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
Đối với số tiền 200.000đ thu giữ của H1, số tiền này là tiền H1 trả tiền thuê phòng nghỉ để mua dâm nên cũng cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 xe máy Honda Vision BKS 29AB-758.62 thu giữ của bị cáo: Xét chiếc xe máy này là tài sản chung của gia đình bị cáo, tiền mua xe là của con trai bị cáo anh Đặng Thái S bỏ tiền ra mua, bị cáo chỉ là người đứng tên trên Giấy đăng ký xe. Mặt khác hoàn cảnh gia đình bị cáo gặp nhiều khó khăn, chiếc xe máy là phương tiện đi lại kiếm sống của cả gia đình. Tại phiên tòa bị cáo và con trai bị cáo đều có đề nghị xin lại chiếc xe nên thấy cần trả lại cho gia đình bị cáo.
[4]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 328; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Đặng Thị Lệ V 09 (chín) tháng tù, về tội “ Môi giới mại dâm” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao Đặng Thị Lệ V cho UBND xã K, huyện M, thành phố Hà Nội giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trả lại bị cáo 01 xe máy Honda Vision BKS 29AB-758.62 và số tiền 450.000đ.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động và số tiền 1.700.000đ.
(Tình trạng tang vật như biên bản bàn giao vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh).
Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm cho Nhà nước.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hằng |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự về tội môi giới mại dâm
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Môi giới mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 13/01/2024, tại nhà trọ thôn Phú Nhi, xã Thanh Lâm, Đặng Thị Lệ V đã có hành vi môi giới cho Đàm Thị T bán dâm cho Trần Văn H nhằm thu lời bất chính.
