Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 35/2024/DS-ST

Ngày: 19-4-2024

V/v tranh chấp hợp đồng góp hụi và

thực hiện nghĩa vụ tài sản do người

chết để lại

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Hồng Thảo Nguyên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Lài;

Ông Thái Văn Lộc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiệp là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 615/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 09/QĐ-DS ngày 11 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T (L), sinh năm 1965; nơi cư trú: Khu phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bà T: Anh Hoàng Công D, sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ A, khu phố B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh (theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 24-11-2023); có mặt.

Bị đơn: Ông Lê Minh Đ, sinh năm 1974; nơi cư trú: Tổ D, khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

Anh Lê Gia B, sinh năm 1997 và chị Lê Gia H, sinh năm 2005; nơi cư trú: Tổ D, khu phố C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của ông Đ, anh B, chị H: Anh Lê Phước Ý, sinh năm 1995; nơi cư trú: Số H, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (theo Hợp đồng uỷ quyền ngày 26-01-2024); có mặt.

2

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đỗ Thị T1, sinh năm 1946 và ông Trần Văn Đ1, sinh năm 1940; cùng trú tại: số H, tổ A, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 02/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - bà Nguyễn Thị T có người đại diện theo uỷ quyền là anh Hoàng Công D trình bày:

Giữa bà T với ông Đ và bà C không có mối quan hệ bà con họ hàng, quen biết làm ăn lâu năm. Bà C, ông Đ tham gia các dây hụi do bà T làm chủ thảo cụ thể:

Hụi tháng mở vào ngày 15/10/2022 gồm 20 phần, trị giá mỗi phần 20.000.000 đồng, mãn hụi ngày 15/05/2024, hụi kêu vào ngày 15 dương lịch hàng tháng. Bà C, ông Đ tham gia 02 phần. Vào ngày 15/11/2022 bà C kêu hụi 3.500.000 đồng và hốt được số tiền 620.000.000 (sáu trăm hai mươi triệu) đồng. Bà T đã đăng hụi đủ và bà C có kí tên vào giấy nhận số tiền 620.000.000 đồng với tên là Trần Thị Kim C1.

Sau khi hốt hụi, bà C1 đóng hụi chết hàng tháng 40.000.000 đồng đến ngày 15/9/2023 thì ngưng đóng (lý do bà C1 chết). Dây hụi này bà C1 còn nợ lại (8 kỳ) số tiền 160.000.000 đồng tiền hụi chết x 2 phần = 320.000.000 đồng. Danh sách hụi dây này gồm có: Bà C1 02 phần, bà Trần Thị Hồng A 03 phần, bà Trần Thị H1 03 phần, bà Trần Thị Kim A1 02 phần, bà Lưu Thị Kim D1 01 phần, bà Hoàng Thị Huyền T2 02 phần, ông Đặng Hoàng T3 01 phần, bà Trần Thị Ngọc B1 02 phần, bà H2 nhà máy chà lúa đang tham gia mà nghỉ đi định cư nên bà T tiếp tục chơi thay, bà Nguyễn Thị Kim T4 01 phần, bà Trần Thị N 01 phần. Hiện tại dây hụi chưa mãn.

Dây hụi thứ hai: Hụi tháng mở hụi vào 25/5/2023, mãn hụi ngày 25/12/2024, hụi tháng trị giá 10.000.000 đồng, gồm 20 phần, khui hụi vào ngày 25 dương lịch hàng tháng; bà C1 và ông Đ tham gia 02 phần. Vào ngày 25/6/2023 bà C1 kêu hụi số tiền 1.800.000 đồng và hốt được số tiền 307.200.000 đồng (ba trăm lẻ bảy triệu hai trăm nghìn đồng). Bà T đã đăng hụi đủ và bà C1 có kí tên vào giấy nhận số tiền 307.200.000 đồng với tên là Trần Thị Kim C1. Sau khi hốt hụi, bà C1 đóng hụi chết hàng tháng 20.000.000 đến ngày 15/9/2023 thì ngưng (lý do bà C1 chết). Dây hụi này bà C1 còn nợ lại (16 kỳ) số tiền 160.000.000 đồng tiền hụi chết x 2 phần = 320.000.000 đồng. Danh sách hụi dây này gồm có: Bà C1 02 phần, bà Trần Thị Ngọc B1 02 phần, bà Lưu Thị Kim D1 02 phần, bà Bùi Thị Y 01 phần, bà Phạm Thị Minh H3 01 phần, bà Nguyễn Thị Hồng H4 01 phần, Bà Trần Thị H5 02 phần, bà Hoàng Thị Huyền T2 04 phần, bà Trần Thị L1 02 phần, bà Lâm Thị D2 01 phần, bà Nguyễn Thị T chủ hụi 02 phần. Hiện tại dây hụi chưa mãn.

Sau khi bà C1 chết, con bà C1 là Lê Gia B có chuyển khoản 40.000.000 đồng cho bà Nguyễn Hoàng T5 (em ruột bà T), chuyển nhờ vì bà T không dùng tài khoản trên điện thoại. Do vợ chồng bà C1 làm ăn kinh doanh tiệm hoa chung

3

nên bà C1 hốt hụi để duy trì tiệm hoa và đáp ứng nhu cầu thiết yếu của vợ chồng nên bà yêu cầu ông Đ có trách nhiệm liên đới trả ½ số nợ hụi và tiền lãi với lãi suất 10%/năm từ ngày khởi kiện đến khi xét xử sơ thẩm và yêu cầu ông Đ, anh B, chị H trả ½ số nợ còn lại và tiền lãi với lãi suất 10%/năm từ ngày khởi kiện đến khi xét xử sơ thẩm trong phạm vi di sản do bà C1 để lại.

Tại phiên toà, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi là 600.000.000 đồng (sáu trăm triệu đồng); không yêu cầu tính lãi.

Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Phước Ý là người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn trình bày:

Thống nhất các dây hụi bà C1 tham gia, số tiền hốt hụi của bà C1 đã hốt như nguyên đơn trình bày. Việc bà C1 góp hụi gia đình không ai biết. Sau khi bà T khởi kiện và qua làm việc tại Toà án, nhận kết luận giám định thì ông Đ, anh B, chị H xác định bà C1 có tham gia 02 dây hụi do bà T làm chủ hụi và có hốt hụi với tổng số tiền theo giấy biên nhận hụi ngày 20/11/2022 số tiền 620.000.000 đồng và giấy biên nhận hụi ngày 30/6/2023 số tiền 307.200.000 đồng; tổng cộng đã nhận hụi số tiền 927.200.000 đồng. Nay ông Đ và chị H, anh B đồng ý trả lại tiền hụi đã nhận cho bà T là 927.200.000 đồng tiền hụi đã hốt – 400.800.000 đồng tiền hụi đã đóng, còn nợ lại hụi gốc 526.400.000 đồng như nội dung đơn khởi kiện ban đầu của bà T. Tuy nhiên ông Đ, chị H và anh B chỉ đồng ý chịu trách nhiệm trong phạm vi di sản của bà C1 để lại; không đồng ý với yêu cầu anh Đ liên đới phải chịu ½ tiền hụi vì anh Đ và các con không biết việc bà C1 tham gia góp hụi.

Đối với số tiền anh B chuyển khoản 40.000.000 đồng cho người nhà bà T để trả tiền hụi thì anh thống nhất có sự việc này; anh B có chuyển để trả tiền hụi cho bà T như lời trình bày của anh D vì sau khi bà C1 chết bà T có đến nhà để đòi tiền hụi, có đưa giấy biên nhận hụi gia đình bà C1 thấy bà C1 có ký tên nên anh B mới chuyển 40.000.000 đồng để trả tiền cho bà T.

Anh đề nghị Toà án trừ số tiền 40.000.000 đồng mà anh B đã chuyển khoản trả tiền hụi chết cho bà T, còn lại số tiền 526.400.000 đồng – 40.000.000 đồng = 486.400.000 đồng, bị đơn đồng ý trả trong phạm vi di sản do bà C1 để lại; không yêu cầu trách nhiệm trả nợ đối với ông Đ1, bà T1 (là cha mẹ ruột của bà C1).

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Đỗ Thị T1 và ông Trần Văn Đ1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Được tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng không đến Toà án, không gửi văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh trình bày:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thẩm phán và thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc chấp hành của những

4

người tham gia tố tụng thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Căn cứ Điều 471, 615, 651 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, 37 Luật Hôn Nhân và Gia đình năm 2014; Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Lê Minh Đ, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H về Tranh chấp hợp đồng góp hụi, thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Buộc ông Đ có trách nhiệm liên đới cùng những người thừa kế của bà C1 gồm ông Đ, anh B, chị H trả số nợ hụi đã được góp thay trong phạm vi di sản bà C1 để lại là 300.000.000 đồng. Buộc ông Đ có trách nhiệm có trách nhiệm trả cho bà T số tiền hụi chết 300.000.000 đồng.

Đương sự phải chịu án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị T khởi kiện yêu cầu ông Đ có trách nhiệm liên đới trả ½ tiền nợ hụi; yêu cầu ông Đ, anh B, chị H là những người thừa kế của bà C1 có nghĩa vụ trả ½ tiền nợ hụi trong phạm vi di sản của bà C1 để lại; bị đơn cư trú tại huyện C, tỉnh Tây Ninh. Do đó quan hệ tranh chấp được xác định là hợp đồng góp hụi và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh theo quy định tại khoản 3, khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, vắng mặt ông Đ1 và bà T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về nợ hụi:

Căn cứ vào “02 biên nhận tiền giấy hụi” nguyên đơn cung cấp, quá trình giải quyết người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xác nhận bà C1 có tham gia các dây hụi như bà T trình bày, đã hốt được số tiền theo giấy biên nhận hụi ngày 20/11/2022 là 620.000.000 đồng và giấy biên nhận hụi ngày 30/6/2023 số tiền 307.200.000 đồng; tổng cộng đã nhận hụi số tiền 927.200.000 đồng. Thống nhất đã đóng được 400.800.000 đồng, còn nợ 526.400.000 đồng theo đơn khởi kiện ban đầu của bà T nhưng ông Đ, chị H và anh B chỉ đồng ý trả số tiền này trong phạm vi di sản của bà C1 để lại.

Anh Ý thừa nhận còn nợ lại số tiền hụi theo đơn khởi kiện ban đầu của bà T là 526.400.000 đồng tương đương nợ tiền hụi sống:

Dây hụi 10.000.000 đồng: còn nợ 16 kỳ x 8.200.000 đồng x 2 phần = 262.400.000 đồng.

5

Dây hụi 20.000.000 đồng: còn nợ 08 kỳ x 16.500.000 đồng x 2 phần = 264.000.000 đồng.

Thấy rằng, tại biên nhận hụi ngày 30-6-2023 có nội dung tính toán tiền hụi mà bà C1 hốt, thể hiện hụi chết các bên thoả thuận là 10.000.000 đồng; tại biên nhận hụi ngày 20/11/2022 thể hiện hụi chết các bên thoả thuận là 20.000.0000 đồng.

Nguyên đơn cho rằng các hụi viên thỏa thuận sau khi hốt hụi nếu chậm đóng lại hụi chết thì không phải chịu thêm khoản lãi nào, chỉ phải đóng lại hụi chết khi đến kỳ hụi khui hàng tháng nên yêu cầu bị đơn trả lại tiền hụi chết chưa đóng kể từ khi vi phạm nghĩa vụ. Tại các biên bản lấy lời khai các hụi viên cùng tham gia hụi với bà C1 là bà Y, bà H1, bà B1 (Bút lục 110, 107, 104) thể hiện các hụi viên thỏa thuận hụi viên hốt hụi phải đóng lại hụi chết cho chủ hụi; bị đơn không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh. Bà C1 chết ngày 19/9/2023, ngưng không đóng hụi cho bà T là đã vi phạm nghĩa vụ đóng tiền hụi tại Điều 16, Điều 17, Điều 24 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019, do đó bà T đã đóng thay bà C1 các phần hụi chết khi đến kỳ mở hụi để đăng hụi cho các hụi viên khác nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T đối với số tiền hụi chết của 02 dây hụi còn nợ lại là:

Dây hụi thứ nhất: 8 kỳ x 20.000.000 đồng x 2 phần = 320.000.000 đồng

Dây hụi thứ hai: 16 kỳ x 10.000.000 đồng x 2 phần = 320.000.000 đồng.

Tổng cộng tiền hụi bà C1 còn nợ lại là 640.000.000 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, các bên thống nhất bị đơn đã chuyển trả cho nguyên đơn 40.000.000 đồng tiền hụi chết và thống nhất khấu trừ số tiền này vào số tiền bà C1 còn nợ. Do đó, số tiền hụi chết bà C1 còn nợ lại sau khi khấu trừ là 600.000.000 đồng. Tại phiên toà, anh D đại diện bà T rút lại yêu cầu tính lãi nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[4] Về nghĩa vụ trả nợ:

[4.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn xác định ông Đ có nghĩa vụ đối với ½ số tiền hụi là 300.000.000 đồng. Thấy rằng, bà C1 tham gia góp hụi và hốt hụi trong thời kỳ hôn nhân, tại biên bản lấy lời khai anh Ý xác định bà C1 và ông Đ làm ăn kinh doanh chung, trước khi chết cả hai sống chung nhà, bà C1 tham gia góp hụi trong khoảng thời gian dài. Tại phiên tòa, anh Ý thừa nhận anh B có chuyển khoản trả tiền hụi 40.000.000 đồng cho bà T sau khi bà C1 chết, nên có cơ sở xác định ông Đ và các con có biết việc góp hụi giữa các bên; số tiền thu được sau khi hốt hụi để sử dụng chung mục đích gia đình. Theo quy định tại Điều 27, Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Đ có trách nhiệm trả ½ số nợ hụi là có căn cứ.

[4.2] Bà C1 chết ngày 19/9/2023, bà C1 có chồng là ông Đ, có con là anh B, chị H, có cha mẹ ruột là ông Đ1 bà T1. Bà Đỗ Thị T1 và ông Trần Văn Đ1 đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng không đến Toà án, không gửi văn bản trình bày ý kiến nên không có ý kiến trình bày, đã từ bỏ quyền phản bác nên căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải

6

quyết vụ án. Do bà T không yêu cầu bà T1, ông Đ1 có nghĩa vụ trả tiền hụi; ông Đ, chị H, anh B thống nhất trả nợ hụi cho bà T trong phạm vi di sản do bà C1 để lại nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Theo quy định tại khoản 1 Điều 651, Điều 615 Bộ luật Dân sự những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà C1 gồm: ông Đ, anh B, chị H có trách nhiệm trả nợ hụi số tiền 300.000.000 đồng trong phạm vi di sản thừa kế do bà C1 để lại.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ nên chấp nhận.

[5] Về chi phí giám định: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí giám định số tiền 2.820.000 đồng (Hai triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng). Do bà Nguyễn Thị T đã nộp tạm ứng nên ông Lê Minh Đ có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền 1.410.000 đồng (một triệu bốn trăm mười nghìn đồng); ông Lê Minh Đ, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 1.410.000 đồng (một triệu bốn trăm mười nghìn đồng) trong phạm vi di sản thừa kế do bà C1 để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

[6] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Lê Minh Đ phải chịu 15.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Lê Minh Đ, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H phải chịu 15.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm trong phạm vi di sản thừa kế do bà C1 để lại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự; Căn cứ Điều 27 và Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 615, Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015; Căn cứ Nghị định 19/2019/CP ngày 19/02/2019 của Chính Phủ về họ, hụi, biêu, phường;

Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T đối với ông Lê Minh Đ, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”

Buộc ông Lê Minh Đ có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền hụi là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng).

Buộc những người hưởng thừa kế của bà C1 gồm ông Lê Minh Đ, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị T tiền hụi là

7

300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) trong phạm vi di sản thừa kế do bà C1 để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về chi phí giám định: Số tiền 2.820.000 đồng (Hai triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng). Do bà Nguyễn Thị T đã nộp tạm ứng nên ông Lê Minh Đ có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị T số tiền 1.410.000 đồng (một triệu bốn trăm mười nghìn đồng); ông Lê Minh Đ, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị T số tiền 1.410.000 đồng (một triệu bốn trăm mười nghìn đồng) trong phạm vi di sản thừa kế do bà C1 để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Về án phí dân sự:

Ông Lê Minh Đ phải chịu 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

Ông Lê Minh Đ, anh Lê Gia B, chị Lê Gia H phải chịu án phí 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng) trong phạm vi di sản do bà C1 để lại.

Bà Nguyễn Thị T không phải chịu án phí. Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh hoàn trả lại cho bà T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.840.000 đồng theo biên lai thu số 0008717 ngày 02/01/2024 và 12.528.000 đồng theo biên lai thu số 0019076 ngày 03/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - CCTHA huyện Châu Thành;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Võ Hồng Thảo Nguyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/DS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng góp hụi và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

  • Số bản án: 35/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng góp hụi và thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Thị T khởi kiện tranh chấp hụi với ông Đ, anh B, chị H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger