Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN IA GRAI

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày: 18-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI, TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Vũ;

- Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Dương Thị Mộng Loan.
  2. Ông RCom Blan.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Khánh Hạ - Thư ký Toà án Nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án Nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2024/TLST-HS ngày 09/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 08/8/2024 đối với bị cáo:

  1. Rơ Mah C, sinh năm 1987 tại Gia Lai; Nơi cư trú: Làng T, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Jrai; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Rơ Châm H và bà Rơ Mah B. Bị có vợ là Puih C1 và có 04 người con. Tiền án: Không, tiền sự: không.
  2. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  3. Rơ Mah B1, sinh năm 1986 tại Gia Lai; Nơi cư trú: Làng T, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Jrai; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Ksor Blanh và bà Rơ Mah L. Bị cáo chung sống như vợ chồng với bà Rơ Châm G, sinh năm 1988 và có 02 người con. Tiền án: Không, tiền sự: 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản.

Nhân thân:

  • Ngày 14/9/2015, Trưởng Công an huyện I, tỉnh Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình phạt tiền.
  • Ngày 17/8/2016, Tòa án nhân dân huyện Ia Grai xử phạt 06 tháng tù về hành vi trộm cắp tài sản.
  • Ngày 17/11/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình phạt tiền.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/4/2024 cho đến nay. Có mặt.

* Người bị hại:

Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1972.

Địa chỉ: Thôn L, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Đề nghị giải quyết vắng mặt.

* Người làm chứng:

  1. Anh Ngô Mạnh L1, sinh năm 1989.
  2. Địa chỉ: Làng H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

  3. Anh Trần Văn T, sinh năm 1983.
  4. Địa chỉ: Làng H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

* Người phiên dịch: Ông Puih D. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
  2. Vào khoảng 08 giờ, ngày 18/4/2024 bị cáo Rơ Mah B1 đến nhà bị cáo Rơ Mah C tại làng D, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai để cùng nhau uống rượu. Sau khi uống rượu xong, bị cáo Rơ Mah C và Rơ Mah B1 rủ nhau đi bắt sâu trên cây muồng, bị cáo C mang theo 01 con dao và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu POPUSPACYAN, biển kiểm soát 34F9-0166 chở B1. Khi cả 02 bị cáo đến rẫy của anh Nguyễn Văn H1 tại làng H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai thì thấy có 01 máy nổ loại Kabuto 7.0 HP gắn đầu bơm loại KIKIWAN 26MC đang để trước nhà rẫy nên C đã rủ B1 vào trộm để bán lấy tiền tiêu xài thì B1 đồng ý, khi B1 và C đang kéo máy bơm ra ngoài được 100m thì bị anh H1 phát hiện và đuổi theo, Rơ Mah C bỏ chạy được còn Rơ Mah B1 bị anh H1 giữ lại cùng máy nổ. Đến ngày 19/4/2024, Rơ Mah C lên làm việc khai nhận hành vi của mình và giao nộp công cụ, phương tiện để thực hiện hành vi gồm: 01 con dao dài 24cm, cán bằng nhựa màu

đỏ trắng dài 11 cm, lưỡi bằng kim loại dà i 13 cm; 01 xe mô tô nhãn hiệu POPUSPACYAN, biển kiểm soát 34F9-0166.

Theo kết luận định giá tài sản số 17/KL-HĐĐGTS ngày 22/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện I xác định: 01 máy nổ loại Kabuto 7.0 HP gắn đầu bơm loại KIKIWAN 26MC tại thời điểm ngày 18/4/2024 có giá trị 4.500.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn H1 đã nhận lại tài sản là 01 máy nổ và không có yêu cầu gì.

Tại bản cáo trạng số 30/CT-VKS ngày 08/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Rơ Mah C và Rơ Mah B1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

  1. Kết quả tranh tụng tại phiên tòa:
  2. - Các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và đồng ý với việc truy tố của Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình.

    - Tại phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, khung hình phạt như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Rơ Mah C 06-08 tháng tù.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Rơ Mah B1 12-14 tháng tù.

    * Người bào chữa cho các bị cáo trình bày lời bào chữa: Về thủ tục tố tụng các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định. Về tội phạm và hình phạt, việc truy tố của Viện kiểm sát đối với các bị cáo là đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 cho bị cáo Rơ Mah C, vì sau khi bị phát hiện bị cáo đã tự nguyện đến cơ quan Công an để làm việc, đề nghị xử phạt Rơ Mah C 06 tháng tù cho hưởng án treo; xử phạt bị cáo Rơ Mah B1 mức hình phạt 09 tháng tù. Về vật chứng, đối với xe mô tô 34F9-0166 gđề nghị trả lại cho gia đình bị cáo Rơ Mah C vì đây là tài sản chung của vợ chồng bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, kiểm sát viên đã thu thập đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng nên hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra Viên và Kiểm sát viên phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội: Căn cứ lời khai của các bị cáo tại phiên tòa; đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở khẳng định: Vào 10 giờ, ngày 18/4/2024, sau khi uống rượu xong, bị cáo Rơ Mah C và bị cáo Rơ Mah B1 thống nhất cùng đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền tiêu xài. Sau đó, bị cáo C đã cầm theo 01 con dao dài 24 cm, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 34F9-0166 chở bị cáo B1 đi đến làng H, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai và thực hiện hành vi trộm cắp 01 máy nổ loại Kabuto 7.0 HP gắn đầu bơm loại KIKIWAN 26MC của anh Nguyễn Văn H1 thì bị anh H1 phát hiện. Theo kết quả định giá tài sản trộm cắp trị giá 4.500.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo Rơ Mah C và Rơ Mah B1 đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm thấy rằng:

Các bị cáo đều biết rõ việc thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, sẽ bị xử lý nghiêm khắc nhưng vì mong muốn chiếm đoạt để bán lấy tiền tiêu xài nên các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Tại phiên tòa, các bị cáo khai rằng mục đích ban đầu là đi bắt sâu mà không phải đi trộm cắp tài sản, tuy nhiên hành vi thực tế thể hiện các bị cáo đã đi từ nhà của bị cáo Rơ Mah C đến vườn nhà của anh Nguyễn Văn H1 để thực hiện ngay việc trộm cắp tài sản nên các bị có đã có ý thức trước trong việc đi trộm cắp cắp tài sản mà không phải đi bắt sâu như đã khai. Hành vi của các bị cáo thể hiện ý thức xem thường pháp luật, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an ninh tại địa phương nên cần nghiêm trị.

[4] Khi thực hiện hành vi phạm tội, 02 bị cáo cùng bàn bạc, thống nhất ý chí và mục đích phạm tội nên thuộc đồng phạm, tuy nhiên giữa các bị cáo không có sự phân công vai trò, vị trí cụ thể từng bị cáo nên đồng phạm giản đơn nhưng vai trò đồng phạm có sự khác nhau.

Bị cáo Rơ Mah C là người khởi xướng, rủ bị cáo Rơ Mah B1 đi trộm cắp tài sản, chuẩn bị công cụ là 01 con dao và sử dụng xe mô tô làm phương tiện để chở Rơ Mah B1 đi trộm cắp tài sản. Bị cáo còn tham gia trực tiếp vào việc thực hiện tội phạm bằng việc

sử dụng dao để cắt, tháo gỡ dây máy nổ và hỗ trợ bị cáo B1 di chuyển tài sản trộm cắp cho đến lúc bị phát hiện. Bị cáo Rơ Mah B1 là người thực hành, trực tiếp thực hiện tội phạm cùng với Rơ Mah C nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người bị hại để cùng nhau hưởng lợi. Các bị cáo phải chịu mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và vai trò đồng phạm.

[5] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Rơ Mah C có nhân thân tốt. Bị cáo Rơ Mah B1 có nhân thân xấu, vì đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự và nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Rơ Mah C phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Đối với ý kiến của người bào chữa đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo Rơ Mah C, vì cho rằng bị cáo Rơ Mah C đã tự nguyện ra trình diện. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo khai rằng, việc bị cáo đến cơ quan thẩm quyền làm việc, khai báo hành vi phạm tội sau khi bị phát hiện là theo yêu cầu triệu tập. Ngoài ra, không có tài liệu, chứng cứ thể hiện cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận bị cáo đến đầu thú nên không có căn cứ xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo đề nghị của người bào chữa.

[7] Về phần trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được trả lại cho bị hại, người bị hại không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.

[8] Về vật chứng: Đối với xe mô tô bị cáo Rơ Mah C sử dụng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên tịch thu sung công quỹ nhà nước. Đối với 01 con dao dài 24 cm không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí theo quy định tại đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ quốc hội.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 326; Điều 327 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự.

  1. Tuyên bố các bị cáo Rơ Mah C và Rơ Mah B1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Rơ Mah C 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Rơ Mah B1 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 18/4/2024.

  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo được miễn án phí.
  4. Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
    • Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 xe mô tô biển kiểm soát 34F9-0166.
    • Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 24 cm.

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/8/2024 giữa Công an huyện I và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ia Grai).

  5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hôm nay, các bị cáo có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND huyện Ia Grai;
  • - Công an huyện Ia Grai;
  • - Bị cáo;
  • - Người TGTT khác;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Vũ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN IA GRAI TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự Rơ Mah Chim - Rơ Mah Ben
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger