Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 17/9/2024

V/v: ly hôn, tranh chấp

về nuôi con.

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Xuân Diễn.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Khắc Hoàn và bà Vũ Thị Thanh.

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Viện - Kiểm sát viên

Trong ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 3 năm 2024, về việc: “ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29 tháng 7 năm 2024, và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 12/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 27/8/2024, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Y.

Địa chỉ cư trú: thôn B xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Anh Lê Văn V.

Địa chỉ cư trú: thôn B xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày có nội dung như sau:

Chị Phạm Thị Y và anh Lê Văn V kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn theo quy định tại UBND xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, đăng ký kết hôn vào ngày 29/3/2016, sau khi kết hôn hai vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc đến khoảng tháng 6 năm 2019 thì hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do hai người không tìm được tiếng nói chung, hay cãi vã nhau, tuy nhiên nguyên nhân chính và chủ yếu là do khi sinh cháu thứ hai vào tháng 6/2019 thì anh V và gia đình nhà chồng nghi ngờ chị Y không chung thủy, cháu thứ hai không phải con anh V, nên mâu thuẫn càng trầm trọng, không tin tưởng nhau, bên phía gia đình chồng cũng không ủng hộ hai vợ chồng chung sống với nhau, do vậy khoảng tháng 9/2019 chị Y đã cùng cháu thứ hai khi đó mới 3 tháng tuổi về nhà bố mẹ đẻ của chị Y tại thôn D xã L, thị xã Q để ở và hai vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị Y xác định mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau, tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và để tạo lập cuộc sống riêng cho cả hai người nên chị có đề nghị kiên quyết được ly hôn anh Lê Văn V. Về con chung, chị Y và anh V sinh được hai con chung là Lê Thanh P, sinh ngày 25/9/2015 và Lê Đức T, sinh ngày 21/6/2019, hiện tại con chung Lê Đức T đang ở cùng chị Y từ nhỏ, còn con chung Lê Thanh P đang ở cùng anh V, để cho hợp lý, chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Đức T, còn anh V trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Thanh P đến tuổi thành niên, hai bên không phải cấp dượng nuôi con chung cho nhau; về tài sản chung chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 29/7/2024, anh V vắng mặt, chị Y giữ nguyên quan điểm về việc yêu cầu được ly hôn anh V và vấn đề nuôi con cũng như cấp dưỡng như trên, về tài sản chung chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với Bị đơn, anh Lê Văn V, quá trình giải quyết từ khi thụ lý vụ án anh V không hợp tác, tuy trực tiếp nhận các tài liệu của Tòa án như Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo hòa giải nhưng anh V đều không đến Tòa để trình bày quan điểm cũng như thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Tòa án đã tiến hành điều tra xác minh tại gia đình và địa phương đã xác định được tình trạng mâu thuẫn vợ chồng, Tòa án đã tiến hành các thủ tục theo luật định và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa lần thứ nhất anh V vắng mặt, phiên tòa lần thứ hai chị Y vắng mặt Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay anh V vẫn tiếp tục vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo luật định.

Tại phiên tòa chị Y giữ nguyên quan điểm về vấn đề tình cảm là ly hôn anh Lê Văn V và có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung Lê Đức T, còn anh V trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Thanh P đến tuổi thành niên, hai bên không phải cấp dượng nuôi con chung cho nhau; về tài sản chung chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên phát biểu ý kiến về việc áp dụng pháp luật trong việc giải quyết vụ án của Thẩm phán và Thư ký đã tuân theo các quy định của pháp luật và tại phiên toà Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ và đảm bảo quyền lợi của đương sự theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chị Y đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, anh V không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82,83 Luật Hôn nhân và gia đình, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 của UBTVQH, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn, xử cho chị Phạm Thị Y được ly hôn anh Lê Văn V; về con chung, giao cho chị Y trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung Lê Đức T đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi), anh Lê Văn V trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Thanh P đến tuổi thành niên, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; về tài sản chung đương sự không yêu cầu giải quyết, không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Xét yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Y về tình cảm:

Chị Phạm Thị Y và anh Lê Văn V kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, đăng ký kết hôn theo quy định vào ngày 29/3/2016, đây là hôn nhân tự nguyện, hợp pháp. Quá trình chung sống bước đầu hôn nhân hòa thuận hạnh phúc nhưng sau đó xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh V và chị Y không tin tưởng nhau nghi ngờ nhau về tình cảm dành cho nhau nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do không được giải quyết và hàn gắn kịp thời nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, chị Y cùng con chung thứ hai đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ để ở khi con chung mới 3 tháng tuổi và hai người đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa hai người dành cho nhau đã thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, chị Y kiên quyết muốn ly hôn anh V, HĐXX thấy rằng yêu cầu khởi kiện xin ly hôn anh V của chị Y là có căn cứ nên áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 58,81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Y, xử cho chị Y được ly hôn anh Lê Văn V.

[2] Về con chung của vợ chồng: Chị Phạm Thị Y và anh Lê Văn V sinh được 02 con chung tên là Lê Thanh P, sinh ngày 25/9/2015 và Lê Đức T, sinh ngày 21/6/2019, hiện tại con chung Lê Đức T đang ở cùng chị Y từ nhỏ, còn con chung Lê Thanh P đang ở cùng anh V, để cho hợp lý, chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Đức T, còn anh V trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lê Thanh P đến tuổi thành niên, hai bên không phải cấp dượng nuôi con chung cho nhau. HĐXX căn cứ tình trạng thực tế gia đình của chị Y và anh V hiện nay thấy rằng nguyện vọng về việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con của chị Y là phù hợp với thực tế và cũng hợp lý nên HĐXX chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn chị Phạm Thị Y .

[3] Về tài sản chung: đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, HĐXX không đề cập đến.

[4] Về án phí: áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Phạm Thị Y phải chịu án phí dân sự ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 235, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Phạm Thị Y, chị Phạm Thị Y ly hôn anh Lê Văn V.
  2. Về con chung: giao cho chị Phạm Thị Y trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung tên là Lê Đức T, sinh ngày 21/6/2019 đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi); giao cho anh Lê Văn V trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung tên là Lê Thanh P, sinh ngày 25/9/2015 đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi). Chị Y và anh V không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Không ai được ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung, khi cần thiết vì lợi ích của con, bên không trực tiếp nuôi con có quyền làm đơn yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  1. Về tài sản chung: đương sự không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không đề cập đến.
  2. Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Phạm Thị Y phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự ly hôn sơ thẩm, chị Y đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đồng theo biên lai số 0003855, ngày 28/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên, chị Y đã nộp đủ tiền án phí dân sự ly hôn sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho Nguyên đơn biết có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/9/2024); báo cho bị đơn biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận :

-TAND tỉnh Quảng Ninh ;

- VKSND tỉnh Quảng Ninh;

- VKSND TX Quảng Yên;

- Nguyên đơn, Bị đơn;

-UBND xã Tiền Phong

(nơi đăng ký kết hôn);

- Thi hành án dân sự;

- Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Xuân Diễn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HNGĐ - ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 35/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Phạm Thị Yến ly hôn anh Lê Văn Vượng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger