Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC, TP. HÀ NỘI

Bản án số:35/2024/HS-ST

Ngày 16/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Bộ và ông Nguyễn Đại Đồng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quang Hoà - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/HSST ngày 05 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:35/2024/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: NGÔ XUÂN BẮC, sinh năm 1972; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn N, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 01/12; Con ông Ngô Văn H và bà Nguyễn Thị L (đều đã chết); vợ Đặng Thị P, sinh năm 1981; con có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014; tiền sự: Không; danh chỉ bản số 380 lập ngày 29/12/2023 tại Công an huyện M, thành phố Hà Nội.

Tiền án: Ngày 19/6/2020 bị Toà án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H từ ngày 12/12/2023 đến nay, có mặt tại phiên toà.

* Người bị hại: Chùa Đ1. Địa chỉ: thôn K, xã V, huyện M, Hà Nội. Người đại diện ông Trịnh Văn C (Pháp danh Thích Thanh Â) – Chủ trì chùa Đ1, Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Vũ Văn Đ, sinh năm 1986. Trú tại: thôn K, xã V, huyện M, Hà Nội, Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

* Người đại diện cho bị cáo B và đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Đặng Thị P, sinh năm 1982 (vợ bị cáo). Trú tại: thôn N, xã V, huyện Ứ, thành phố Hà Nội, Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: bà Đinh Thị Mai P1, trợ giúp viên pháp lý trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H, Vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10/12/2023, anh Vũ Văn Đ, sinh năm 1986, trú tại thôn K, xã V, huyện M (là người ký hợp đồng bảo vệ tài sản tại chùa Đ1 thuộc thôn K, xã V, huyện M) đến Công an huyện M trình báo, về việc: Sáng ngày 10/12/2023, anh Đ phát hiện tại gian thờ Mẫu tại chùa Đ1 bị kẻ gian cậy cửa và trộm cắp toàn bộ số tiền trong hòm công đức với tổng số tiền khoảng 5.000.000 đồng. Cùng ngày, Cơ quan điều tra thu thập tài liệu và ngày 12/12/2023 tiến hành bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp nơi ở đối với Ngô Xuân B1 sinh năm 1972, trú tại thôn N, xã V, huyện Ứ, phát hiện thu giữ tại nơi ở của B1 số tiền VND gồm: 1042 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng; 3111 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; 09 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 09 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng, tổng số tiền thu giữ là 5.330.000đ; Ngoài ra còn thu giữ các đồ vật gồm: 01 chiếc hòm tôn màu xám dạng hình hộp chữ nhật có kích thước (55x35x25) cm; 01 thanh kim loại dài 30cm có 01 đầu nhọn, 01 đầu bằng; 01 thanh kim loại dài 27cm có 01 đầu dẹt, 01 đầu bằng; 01 xe đạp màu trắng, khung xe có dòng chữ “ RON Xa ma SPONT”; 01 chiếc đèn pin màu đen; thu tại dây phơi quần áo 01 chiếc áo dài tay màu đen, 01 chiếc quần dài màu đen, mỗi bên ống quần có 03 dải phản quang sáng màu.

Quá trình điều tra làm rõ: Khoảng 01 giờ sáng ngày 10/12/2023, B1 đi xe đạp của gia đình, mang theo 01 đèn pin, 01 đục sắt, 01 túi ni lon đi theo đường tỉnh lộ 21B sang địa bàn huyện M, mục đích trộm cắp tài sản. Đến khoảng 02 giờ cùng ngày, B1 đi từ thôn N, xã V, huyện Ứ đến chùa Đ1, thuộc khu vực xã V, huyện M. Bắc để xe đạp ngoài cổng chùa, đi bộ vào trong sân và đi đến 01 gian nhà khóa cửa, B1 dùng đục sắt nạy cánh cửa bật khỏi bàn lề rồi đi vào trong phòng thì thấy có 01 chiếc tủ gỗ để tiền công đức nên đã dùng đục sắt đem theo nạy cánh cửa tủ bật ra. Bắc thấy bên trong có rất nhiều tiền lẻ gồm các mệnh giá 1000 đồng, 2000 đồng, 5000 đồng, 10.000 đồng. B1 dùng tay gom tiền vào bỏ vào trong 01 túi bóng mang theo và lấy 01 khăn trải bàn ở trước ban thờ gom hết số tiền còn lại trong hòm công đức quấn lại rồi mang ra buộc vào xe đạp rồi đi về nhà cất giấu toàn bộ số tiền vừa lấy được tại tầng 02 của nhà mình. Khoảng 08 giờ cùng ngày, B1 ngủ dậy mang chiếc khăn trải bàn bỏ vào bao tải màu trắng của gia đình đem vứt gần trường tiểu học xã V. Sau đó, B1 quay về nhà đếm số tiền lấy trộm được thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang, lập biên bản thu giữ tang vật và dẫn giải B1 về trụ sở làm việc.

Ngày 12/12/2023, Cơ quan điều tra đã áp giải Ngô Xuân B1 đến địa điểm gần trường tiểu học xã V, huyện Ứ nơi B1 khai vứt bỏ vật chứng truy tìm và lập biên bản thu giữ 01 tấm vải màu vàng, hình chữ nhật, kích thước (2,7x1,5)m; 01 bao tải dứa màu trắng kích thước (98x44)cm. Đối với tấm vải đại diện nhà chùa không yêu cầu định giá, vì không có giá trị.

Quá trình điều tra xác định bị can Ngô Xuân B1 có tiền sử bệnh tâm thần. Nên ngày 08/01/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện M đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 43/QĐ-TCGĐ, trưng cầu Viện pháp y tâm thần Trung ương giám định tình trạng bệnh tâm thần đối với Ngô Xuân B1.

Tại Kết luận giám định số 141/KL-PYTT-TW ngày 23/5/2024 của V, kết luận: “ ...Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và tại thời điểm giám định, bị can Ngô Xuân B1 bị bệnh chậm phát triển tâm thần nhẹ, theo phân loại bệnh Quốc Tế lần thứ 10 năm 1992, bệnh có mã F70.

Tại các thời điểm trên bị can bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.”

Đối với các vật chứng là 01 chiếc xe đạp màu trắng, 01 đèn pin, 01 thanh kim loại 1 đầu nhọn, một đầu bằng, 01 thanh kim loại 1 đầu dẹt, một đầu bằng, 01 chiếc áo dài tay màu đen, 01 chiếc quần dài màu đen B1 khai là phương tiện, công cụ, quần áo, 01 bao tải dứa, B1 khai bản thân sử dụng trong, sau khi đi trộm cắp tài sản ngày 10/12/2023; 01 chiếc hòm tôn màu xám dạng hình hộp chữ nhật B1 khai là dụng cụ đựng tiền, công cụ sau khi đi trộm cắp về cần phải được xem xét xử lý theo pháp luật.

Đối với số tiền 5.330.000đ là vật chứng thu giữ trong quá trình điều tra và 01 tấm vải màu vàng B1 khai lấy tại ban thờ chùa Đ1. Cơ quan điều tra đã trả lại cho đại diện chùa Đ1 là phù hợp.

Tại Cơ quan điều tra bị cáo B1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát, tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Tại Cáo trạng số: 27/CT-VKS-HS ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo Ngô Xuân B1 về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm q, s khoản 1 Điều 51; điểm h Điều 52; khoản 5 Điều 65; Điều 56 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Ngô Xuân B1 từ 12 đến 18 tháng tù và tổng hợp hình phạt 30 tháng tù của Bản án số:29/2020/HSST ngày 19/6/2020 của Toà án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án từ 42 đến 48 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập và phải chấp hành hình phạt tù nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được nhận lại tài sản và không ai yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: 01 đèn pin, 01 thanh kim loại 1 đầu nhọn, một đầu bằng, 01 thanh kim loại 1 đầu dẹt, một đầu bằng, 01 chiếc áo dài tay màu đen, 01 chiếc quần dài màu đen, 01 bao tải dứa, 01 chiếc hòm tôn màu xám dạng hình hộp chữ nhật. Trả lại cho bà Đặng Thị P là vợ bị cáo: 01 chiếc xe đạp màu trắng.

Về án phí: Đề nghị miễn án phí hình sự cho bị cáo B1.

Người bào chữa bà Đinh Thị Mai P1 vắng mặt gửi bài luật cứ bào chữa cho bị cáo B1 có quan điểm: Nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh cũng như điều luật áp dụng đối với bị cáo nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo, bởi: bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi và được xác nhận là người khuyết tật nặng dạng tâm thần, thần kinh; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi và trả cho người bị hại; gia đình bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, vợ bị cáo đau ốm và có 02 con nhỏ, trong đó con lớn cũng mắc chứng bệnh như bị cáo. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cho bị cáo B1 được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội sửa chữa và sớm được trở về với gia đình và miễn án phí hình sự cho bị cáo.

Vợ bị cáo bà Đặng Thị P đại diện theo pháp luật cho bị cáo B1 trình bày: Gia đình hiện nay bà là lao động chính phải nuôi 02 con nhỏ, trong đó con lớn cũng mắc chứng bệnh như bị cáo B1 và gia đình chồng anh em ruột cũng đều bị bệnh thần kinh tâm thần, hiện nay bà đau ốm đi lại khó khăn. Bị cáo B1 bị bệnh hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi nên được UBND xã V cấp Giấy xác nhận là người khuyết tật nặng ngày 18/8/2013 và hưởng trợ cấp xã hội 660.000đồng/tháng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo B1 và miễn án phí hình sự cho bị cáo. Đề nghị cho bà xin lại chiếc xe đạp bị cáo B1 đã sử dụng đi trộm cắp tài sản. Vì chiếc xe đạp trên bà đi làm tích cóp được 500.000đồng để mua cho con làm phương tiện đi học hàng ngày.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Ngô Xuân B1 thừa nhận hành vi pham tội của mình và đúng với số tài sản bị cáo trộm cắp là hoàn toàn chính xác, bị cáo không thắc mắc gì. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện M và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Bị cáo thuộc là người bị bệnh hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi được xác nhận là người khuyết tật nặng dạng thần kinh, tâm thân nên được trợ giúp pháp lý miễn phí. Người bào chữa cho bị cáo là bà Đinh Thị Mai P1 – Trợ giúp viên pháp lý chi nhánh số 7 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi luận cứ bào chữa cho bị cáo tại phiên toà. Bị cáo B1 và người đại diện theo pháp luật cho bị cáo nhất trí và đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bà P1; vì hành vi của bị cáo đã rõ và người bào chữa cho bị cáo đã có bài luận cứ bào chữa gửi Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo. Nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người bào chữa là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Người bị hại đại diện chùa Đ1 – Chủ trì Thích Thanh Â, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vũ Văn Đ đều được triệu tập hợp lệ; đại diện chùa Đ1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản, có đơn xin xét xử vắng và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng tới việc xét xử vụ án. Do vậy, Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, tang vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản nên khoảng 02 giờ 00 ngày 10/12/2023, Ngô Xuân B1 đã lén lút vào chùa Đ1, thuộc khu vực xã V, huyện M, thành phố Hà Nội thực hiện hành vi cậy hòm công đức lấy tổng số tiền 5.330.000đồng của chùa Đ1 do ông Trịnh Văn C (Pháp danh Thích Thanh Â) – Chủ trì chùa Đ1 quản lý.

Theo Khoản 1 Điều 173 BLHS quy định về tội: Trộm cắp tài sản:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 2.000.000 đ nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”.

Như vậy hành vi của Ngô Xuân B1 đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo đã có một tiền án chưa được xoá án tích về hành vi trộm cắp tài sản nay lại phạm tội do cố ý. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tù nghiêm đối với bị cáo.

[3]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xoá án tích tại Bản án số:29/2020/HSST ngày 19/6/2020 của Toà án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Nay bị cáo lại phạm tội do cố ý trong thời gian thử thách của án treo nên cần áp dụng khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án và áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là: Tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức, điều khiển hành vi và có Giấy xác nhận khuyết tật của UBND xã V ngày 18/8/20213, xác định dạng khuyết tật: Thần kinh, tâm thân; mức độ khuyết tật: N, thuộc đối tượng hưởng trợ cấp xã hội. Bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải; tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho người bị hại, đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là người khuyết tật và phải chấp hành hình phạt tù nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên không xem xét.

[7]. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 đèn pin, 01 thanh kim loại 1 đầu nhọn, một đầu bằng, 01 thanh kim loại 1 đầu dẹt, một đầu bằng, 01 chiếc áo dài tay màu đen, 01 chiếc quần dài màu đen, 01 bao tải dứa; 01 chiếc hòm tôn màu xám dạng hình hộp chữ nhật là công cụ liên quan đến việc bị cáo B1 đi trộm cắp tài sản nên cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với: 01 chiếc xe đạp màu trắng, khung xe có dòng chữ “RON Xa ma SPONT” bị cáo B1 dùng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nhưng xác định tài sản trên là của bà Đặng Thị P vợ của bị cáo mua cho con làm phương tiện đi học nên cần trả lại chiếc xe đạp trên cho bà Đặng Thị P.

[8]. Về án phí: Bị cáo là người khuyết tật và tại phiên toà đề nghị được xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người đại diện, người bào chữa và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Xuân B1 phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

2. Về điều khoản áp dụng và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm p, q, s khoản 1 Điều 51; điểm h Điều 52 và khoản 5 Điều 65; Điều 56 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: N (Mười hai) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 30 tháng tù của Bản án số:29/2020/HSST ngày 19/6/2020 của Toà án nhân dân huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/12/2023.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy: 01 đèn pin, 01 thanh kim loại 1 đầu nhọn, một đầu bằng, 01 thanh kim loại 1 đầu dẹt, một đầu bằng, 01 chiếc áo dài tay màu đen, 01 chiếc quần dài màu đen, 01 bao tải dứa, 01 chiếc hòm tôn màu xám dạng hình hộp chữ nhật.

Trả lại bà Đặng Thị P: 01 chiếc xe đạp màu trắng, khung xe có dòng chữ “RON Xa ma SPONT”.

Những tang vật trên hiện do Chi cục thi hành án Dân sự quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/7/2024 giữa Công an huyện M và Chi cục thi hành án Dân sự huyện Mỹ Đức, Hà Nội.

4. Về án phí: Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Ngô Xuân B1.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, người đại diện của bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người bào chữa cho bị cáo vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, người có quyền lợi liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo đến phần liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận :

  • - TAND TP Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - CA huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - Bị cáo; Người bị hại;
  • - Người đại diện; người bào chữa;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lê Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger