|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35 /2024/DS-PT
Ngày: 16/5/2024
“Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Tạ Duy Ước
Các Thẩm phán:
ông Bùi Đức Thanh
ông Nguyễn Văn Năm
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Phương Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh: bà Vũ Ngọc Quyên- Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong ngày 24 tháng 4 và ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 04/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng1 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”
Do bản án dân sự sơ thẩm số 45/2024/DS-ST ngày 17/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh bị kháng cáo, kháng nghị.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐ-PT ngày 05/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2024/QĐ-PT ngày 16/4/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 05/2024/QĐPT-DS ngày 24/4/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: ông Vũ Văn K, sinh năm 1969; nơi thường trú: tổ B, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: thôn B, xã T, huyện K, tỉnh Hải Dương. Có mặt
Bị đơn:
- Ông Nguyễn Bích H, sinh năm 1958; địa chỉ: tổ A, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt
- Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1964; địa chỉ: tổ B, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh . Có mặt
- Bà Nguyễn Thị Kim O, sinh năm 1976; địa chỉ: tổ H, khu G, phường H, thành phố H tỉnh Quảng Ninh. Có mặt
- Ông Nguyễn Xuân T1 (đã chết ngày 07/3/2021). Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng gồm:
- Bà Nguyễn Thị Bích T2, sinh năm 1964; địa chỉ: tổ B, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt
- Anh Nguyễn Thế A, sinh năm 1981; địa chỉ: tổ B, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh Vắng mặt
- Chị Nguyễn Thị Huyền T3, sinh năm 1985; địa chỉ; tổ B, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh Vắng mặt
- Anh Nguyễn Tiền H1; sinh năm 1986; địa chỉ: tổ B, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh Vắng mặt
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Mạnh H2 (đã chết), người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H2: anh Nguyễn Hữu H3; sinh năm 1973; địa chỉ: tổ H, khu B B, phường H, thành phố H, Quảng Ninh.Vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị V; sinh ngày 08/4/1952; địa chỉ: Khu dân cư B, thị trấn V, huyện V, thành phố Hải Phòng
- Ủy ban nhân dân thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; địa chỉ: số B B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Tiến D - Chủ tịch UBND thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm Lê H4- Phó giám đốc văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố H
- Ủy ban nhân dân phường H, thành phố H, Quảng Ninh.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Kiều Xuân H5- chức vụ: công chức Địa chính, đô thị, xây dựng và môi trường. Vắng mặt. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người làm chứng: ông Bùi Khánh T4.
Địa chỉ: tổ E, khu E, phường H, thành phố H, Quảng Ninh có mặt.
* Kháng nghị: Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh.
* Kháng cáo: bị đơn ông Nguyễn Bích H, ông Nguyễn Hữu T và bà Nguyễn Thị Kim O.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Vũ Văn K trình bày: Ngày 20/11/1999, ông K mua của ông Bùi Khánh T4 thửa đất 45 m² tại địa chỉ tổ I, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Khi mua hai bên đã lập giấy tờ mua bán viết tay, không công chứng, chứng thực. Theo bản vẽ sơ đồ địa chính, thửa đất có đặc điểm vị trí: hướng đông cách mép đường ra bãi thải C 5m, hướng tây cách đầu hồi nhà bà H6 0,5m, hướng nam giáp khu tự xây đã cấp, hướng bắc cách tường rào nhà bà T5 1m. Năm 2005, ông nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xin mua thêm của Nhà nước diện tích đất 61,2 m². Ngày 19/4/2005, ông được Ủy ban nhân dân thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 153681, số vào sổ cấp GCN: 10411, với diện tích 106,02 m² địa chỉ thửa đất : tổ I, khu 10 nay là tổ B, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, mang tên Vũ Văn K. Năm 2007, gia đình nhà bà Nguyễn Thị M, người sử dụng đất liền kề phía sau nhà ông tự ý phá bức tường ranh giới để làm đường đi lấn chiếm sang đất của ông có chiều rộng hai đầu lần lượt là 1,15m và 1,53m, chiều dài là 13,91m. Ông đã can ngăn nhưng gia đình bà M nhận đó là đất của tổ tiên bà. Tháng 12/2017, gia đình bà M thông tin cho ông biết sẽ xây nhà ở phía sau nhà ông nên ông đã cung cấp cho gia đình bà M giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để chứng minh cho gia đình bà M biết đã lấn chiến lên phần đất của ông đã được cấp. Do hai bên không hòa giải được nên ngày 04/01/2018, ông đề nghị và Ủy ban nhân dân phường H đã lập biên bản làm việc với hai bên nhưng không đạt được thống nhất. Ngày 28/01/2018, gia đình bà M đổ bê tông lấn chiếm 19,5 m² đất của ông để làm đường đi. Ông đề nghị các bị đơn Nguyễn Bích H, Nguyễn Hữu T, Nguyễn Xuân T1 và Nguyễn Thị Kim O trả lại cho ông diện tích 19,5 m² đất đã lấn chiếm tại địa chỉ tổ B, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Ông đồng ý kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và tự nguyện chịu chi phí xém xét thẩm định tại chỗ, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đồng bị đơn ông Nguyễn Bích H, Nguyễn Hữu T, bà Nguyễn Thị Kim O và Nguyễn Xuân T1 (đã chết ngày 07/3/2021) trong quá trình giải quyết vụ án cùng có quan điểm như sau: các ông H, T, T1, bà O là con đẻ của cụ Nguyễn Hữu P và cụ Nguyễn Thị M. Thửa đất tại tổ B, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, hiện bà O đang quản lý và sử dụng là của hai cụ P, M, khi các cụ chết không để lại di chúc nên các ông, bà thuộc hàng thừa kế thứ nhất được hưởng di sản thừa kế của hai cụ. Thửa đất có nguồn gốc do cụ P và cụ M được Ủy ban nhân dân hành chính thị xã H cấp chứng thực ngày 08/01/1962 tại đơn xin cấp đất đề ngày 25/12/1961. Ngày 15/11/1994, cụ M đã chuyển nhượng một phần thửa đất có chiều rộng 4,5 và chiều dài 11,5m cho ông Bùi Khánh T4. Năm 1995, ông T4 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích đất trên. Sau đó ông T4 chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất này cho ông K. Nay ông K khởi kiện cho rằng gia đình các ông, bà lấn chiếm 19,5 m² nên phải trả lại cho ông K diện tích đất này cho ông K, các ông, bà không đồng ý vì: gia đình các ông, bà không lấn chiếm đất của ông K; các ông, bà đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành xác minh, làm rõ nguồn gốc đất của gia đình cụ P, M và nguồn gốc đất của ông K mua của ông T4; các ông, bà không đồng ý việc Ủy ban nhân dân thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 106,02 m² cho ông K vì không có xác nhận ký giáp ranh của hộ gia đình bà M. Trong 61,2 m² đất của ông K được Nhà nước cấp thêm có một phần đất thuộc quyền sử dụng của gia đình các ông, bà nên yêu cầu Tòa án xác minh, làm rõ và trả lại phần diện tích đất cho gia đình các ông, bà. Các ông, bà đồng ý kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và đề nghị chi phí xem xét thẩm định tại chỗ do nguyên đơn chịu.
Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Xuân T1 gồm: bà Nguyễn Thị Bích T2, anh Nguyễn Thế A, chị Nguyễn Thị Huyền T3 và anh Nguyễn Tiền H1, cùng có quan điểm không liên quan đến việc tranh chấp đất giữa ông Vũ Văn K và bà Nguyễn Thị M và đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo ý kiến trình bày của ông Nguyễn Xuân T1.
Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 29/5/2020 thể hiện thửa đất số 101 tờ bản đồ số 61 địa chỉ tổ I, khu A nay là tổ B, khu F phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh diện tích 106,2 m²; chiều rộng mặt tiền 8,28 mét, chiều sâu 15,20 mét thửa đất có giáp ranh tứ cận như sau: phía đông giáp với mặt đường vận tải mỏ; phía tây giáp với đất hộ gia đình bà M; phía bắc giáp đường rãnh thoát nước và tường hộ gia đình nhà ông Nguyễn Xuân T1; phía nam giáp với hộ gia đình bà Vũ Thị T6. Diện tích đất tranh chấp là 19, 5 m², nằm trong phần diện tích đất 106,02 m² được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Vũ Văn K, với chiều rộng 1,15 mét, chiều sâu 13,91 mét; tại thời điểm xem xét, thẩm định tại chỗ xác định đây là đường rãnh thoát nước được san lấp đổ bê tông làm đường đi của hộ gia đình bà Nguyễn Thị M, chiều cao mặt đường so với mặt nền sân nhà Vũ Văn K là từ 49 cm đến 65 cm.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 45/2024/DS-ST ngày 17/10/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Văn K.
- Các bị đơn ông Nguyễn Bích H, ông Nguyễn Hữu T, bà Nguyễn Thị Kim O và người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Xuân T1 là bà Nguyễn Thị Bích T2, anh Nguyễn Thế A, chị Nguyễn Thị Huyền T3 và anh Nguyễn Tiền H1 có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn Vũ Văn K quyền sử dụng đất 19,5 m², có chiều rộng 1,15 m, chiều dài 13,91 m, nằm trong diện tích đất 106,2 m², thuộc thửa đất số 101, tờ bản đồ số 61 đã được Ủy ban nhân dân thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AC 153681, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 10411 ngày 19/4/2005 mang tên ông Vũ Văn K; địa chỉ thửa đất tổ I khu A (nay là tổ B khu F) phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. (đặc điểm, vị trí diện tích đất 19,5 m² thể hiện tại các điểm D, E, 1, 2, 3,4, 5, 6 như trích lục và đo vẽ bổ sung từ bản đồ địa chính thửa đất số 101, tờ bản đồ 61 của Công ty cổ phần K2 ngày 29/5/2020, có sơ đồ đính kèm bản án).
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 30/10/2023, bị đơn ông Nguyễn Bích H, ông Nguyễn Hữu T và bà Nguyễn Thị Kim O có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
Ngày 01/11/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tỉnh quảng Ninh ban hành kháng nghị số 07/QĐ/KNPT-DS ngày 31/10/2023 kháng nghị toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và trình bày việc ông nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là diện tích đất theo giấy phép xây dựng và thực tế sử dụng, sau khi nhận chuyển nhượng ông không sử dụng phần đất có cống thoát nước và không nhận chuyển nhượng phần đất có cống nhưng sau này được UBND cấp giấy chứng nhận cả một phần đất có cống thoát nước. Theo giấy phép xây dựng đất của ông nhận chuyển nhượng của ông T4 cách bức tường nhà bà T5 1m nên đồng ý trừ diện tích đất cống thoát nước do hiện trạng ông không sử dụng, phần còn lại ngoài diện tích đất có cống đề nghị bị đơn phải trả lại cho ông.
Các bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày phần đất xây cống là do gia đình bị đơn xây dựng từ trước khi chuyển nhượng diện tích đất cho ông T4 và khi chuyển nhượng đất cho ông T4 chỉ có phần đất giáp cống chứ không chuyển nhượng phần cống. Hiện nay gia đình bị đơn vẫn sử dụng cống này để thoát nước và làm ngõ đi trên mặt cống nhiều năm nay nên đề nghị xác định cống thoát nước là của cụ M có từ trước còn phần ngoài cống thoát nước thì đồng ý trả lại cho ông K.
Người làm chứng, ông Bùi Khánh T4 trình bày: phần diện tích đất ông nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ bà M là diện tích giáp với cống nước thải, phần cống thoát nước trước đây là cống hở, khi chuyển nhượng cho ông K ông chỉ chuyển nhượng phần đất giáp cống theo diện tích giấy phép xây dựng không bao gồm phần cống thoát nước. Cống thoát nước này hộ bà M vẫn sử dụng làm cống thoát nước cho gia đình nên thuộc đất của gia đình bà M nên ông K chỉ được nhận chuyển nhượng từ móng cống trở ra, phần đất có cống là của gia đình bị đơn.
UBND thành phố H trình bày: Diện tích đất có cống thoát nước này không phải là của Nhà nước mà do hộ dân xây dựng nhưng khi lập bản đồ địa chính đã đưa cả diện tích đất cống này vào thửa đất ông K và sau này cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K trên cơ sở bản đồ địa chính nhưng không đúng hiện trạng sử dụng đất nên cấp vào cả cống thoát nước là không đúng hiện trạng. Nếu các hộ giải quyết xong việc tranh chấp UBND sẽ điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng hiện trạng và đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên toà ngày 24/4/2024 các đương sự đề nghị tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ xác định lại hiện trạng sử dụng đất và trừ phần diện tích đất có cống thìphía bị đơn phải trả lại diện tích đất còn lại cho nguyên đơn. Ông K đề nghị HĐXX tiến hành thẩm định và đồng ý nộp chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
Tại buổi xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/5/2024 các đương sự thống nhất diện tích cống có chiều rộng 1,15m, chiều dài 13,91m trong đó có một phần diện tích cống hộ bà M đang sử dụng làm lối đi nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông K là 6,1m²; phần diện tích cống nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông K là 9,9m², phần diện tích ngoài cống nhưng nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông K là 9,6m². Phần mái tôn trên cống có diện tích 2.6m² là của ông K.
Đại diện viện kiểm sát có quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Về tố tụng, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Về nội dung: Đối với một số vi phạm của bản án sơ thẩm, quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp phúc thẩm đã khắc phục được do đó không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm.Căn cứ Khoản 2 Điều 308 BLTTDS đề nghị HĐXX chấp nhận kháng nghị của VKS và chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án sơ thẩm để bảo đảm quyền lợi cho các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: kháng cáo của bị đơn ông H, ông T, bà O và Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh được thực hiện đúng trình tự, thủ tục và trong hạn luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét lại bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm.
Về người tham gia tố tụng: tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện cụ P chết năm 1992 cụ M chết năm 2018 không để lại di chúc, phần tài sản đang có tranh chấp hiện do các đồng thừa kế đang quản lý sử dụng. Lời khai của các con cụ M, cụ P xác định các cụ có 06 người con gồm Nguyễn Mạnh H2 (đã mất năm 1974 có vợ và 01 con); ông Nguyễn Bích H, ông Nguyễn Hữu T, ông Nguyễn Xuân T1 (đã chết) bà Nguyễn Thị V và bà Nguyễn Thị Kim O. Quá trình giải quyết vụ án, tòa án cấp sơ thẩm không đưa người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H2, bà V, UBND thành phố H và UBND phường H tham gia với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là thiếu sót. Cấp phúc thẩm đã khắc phục nội dung này, bổ sung người tham gia tố tụng với UBND thành phố H, UBND phường H và anh Nguyễn Hữu H3 (là con trai ông H2), bà Nguyễn Thị V với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Tòa án đã ban hành công văn số 45 ngày 16/4/2024 vv yêu cầu những người trong hàng thừa kế của ông P và bà M cung cấp thông tin về tên tuổi địa chỉ của vợ ông H2. Tuy nhiên, các đương sự không ai cung cấp theo yêu cầu của tòa án.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo thấy:
Về xác định nguồn gốc và quá trình sử dụng đất: Vợ chồng cụ P và cụ M được sử dụng đất để xây dựng nhà ở có kích thước 25m x 35m theo đơn xin cấp đất ở ngày 25/12/1961, trên đất có 04 gian nhà cấp 4, ngoài ra, gia đình cụ M còn sử dụng phần đất ngoài diện tích 25m x 35m; hiện tại không có cơ sở để xác định được vị trí chính xác của thửa đất theo đơn xin giao đất. Tuy nhiên, căn cứ vào thực tế sử dụng đất và hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hồ sơ địa chính thì bà M là người sử dụng đất bao gồm phần đất chuyển nhượng cho ông T7 45m², phần cống thoát nước nằm giữa bức tường nhà bà T5 và diện tích đất chuyển nhượng cho ông T4. Sau thời gian chuyển nhượng, ông T4 đã có Giấy phép xây dựng 45m², trên giấy phép xây dựng xác định có mép ranh giới phía cách tường 1m. Căn cứ lời khai của ông T4, ông K và các con bà M đều xác định khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất không bao gồm phần đất có cống thoát nước và cống thoát nước có từ trước khi chuyển nhượng, đối chiếu với biên bản xem xét thẩm định tại chỗ cống thoát nước có vị trí như các đương sự trình bày nên đủ cơ sở xác định diện tích đất xây dựng cống là của vợ chồng bà M sử dụng ổn định, liên tục từ khoảng năm 1962 cho đến nay mà chưa cho, tặng hay chuyển nhượng cho ai.
Theo bản đồ địa chính năm 2000, UBND phường H đã cập nhật một phần đất có cống vào thửa đất của ông K nhận chuyển nhượng và sau đó đến năm 2005 thì UBND thành phố H đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K. Căn cứ lời khai của ông T4, ông K và các bị đơn đều xác định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng hiện trạng, nội dung lời khai của các đương sự tại phiên toà phù hợp với kết quả xem xét thẩm định tại chỗ. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/5/2024, các bên đương sự đã thống nhất xác định mép ngoài cùng của của chân móng đá của chân cống kéo đến bức tường bên trên mặt ngõ nhà ông T1 có chiều rộng của cống là 1,15m; chiều dài của cống là 13,91m. Ông K thống nhất với các bị đơn ranh giới đất của ông K tính từ mép móng cống ngầm kéo vào trong thửa đất của ông, phần đất có cống tính từ bức tường (mặt ngoài bức tường phía mặt ngõ) kéo đến mép móng cống phía ngoài giáp nhà ông K làm ranh giới thì ông K trả lại cho bị đơn, còn phần đất từ mép cống (cách tường nhà ông T1 có chiều rộng 1,15m) kéo vào phía trong thửa đất mà gia đình bà M đang sử dụng làm ngõ đi phải trả lại cho ông K. Tại phiên toà các đương sự vẫn trình bày và có quan điểm như nội dung xem xét thẩm định, đây là quyền định đoạt của các đương sự và phù hợp với hiện trạng sử dụng đất nên có căn cứ chấp nhận. Do vậy, theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ đã xác định phần diện tích nhà ông K được cấp giấy chứng nhận chồng lấn lên phần diện tích có cống thoát nước gia đình bị đơn đang sử dụng là 9,9m² và phần diện tích ngõ đi gia đình bị đơn mà trực tiếp là chị O sử dụng vào phần đất của ông K là 9,6m².
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện UBND thành phố H cũng xác định việc UBND thành phố H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K bao gồm cả phần cống ngầm của hộ dân như biên bản thẩm định xác định 9,9m² là không đúng hiện trạng sử dụng đất nên UBND sẽ điều chỉnh lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ ông K theo đúng hiện trạng sử dụng đất mà các bên đã thống nhất.
Như vậy, các đương sự đều đã trình bày thống nhất việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông K vượt quá ranh giới hiện trạng sử dụng đất của hộ ông K đang sử dụng 9,9m² (phần đất có cống của gia đình bà M) và gia đình bà M đã sử dụng đất làm ngõ đi vượt quá phần đất đất cống thoát nước đã lấn vào phần đất của hộ ông K 9,6m² nên có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông K đối với phần đất 9,6m² mà bị đơn sử dụng làm đường đi nhưng tòa án cấp sơ thẩm lại buộc các bị đơn phải trả toàn bộ phần diện tích đất có tranh chấp là 19,5m² cho ông K là chưa chính xác nên cần chấp nhận một phần kháng cáo của các bị đơn ông H, ông T và bà O. Sửa bản án sơ thẩm về nội dung này để đảm bảo quyền lợi của các đương sự.
[3]. Xét nội dung Quyết định kháng nghị số 07/QĐKNPT-VKS-DS ngày 31/10/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long thấy:
[3.1]. Về việc tòa án cấp sơ thẩm xác định chưa đủ tư cách tham gia tố tụng: nội dung này đã được tòa án đã nhận định tại mục [1]. Xét thấy những thiếu sót của cấp sơ thẩm là vi phạm tố tụng nhưng đã được cấp phúc thẩm khắc phục, không ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự, không phải hủy bản án theo nội dung kháng nghị của VKS, HĐXX chấp nhận một phần nội kháng nghị của VKS về bổ sung người tham gia tố tụng.
Xét nội dung kháng nghị về việc bản án sơ thẩm không xác định ông T là đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị V thấy tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt bà V có đề nghị ông T thay mặt bà tham gia tố tụng tuy nhiên bà V chưa thực hiện đầy đủ các quy định về ủy quyền nên việc ủy này chưa đúng quy định của pháp luật nên không chấp nhận phần kháng nghị này của Viện kiểm sát.
[3.2]. Về xác minh thu thập chứng cứ.
Quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, tòa án đã bổ sung tư cách tham gia tố tụng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án đối với anh Nguyễn Hữu H3 là con của ông Nguyễn Bích H7. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh H3 không có mặt nên không thể lấy lời khai của anh H3. Đối với vợ ông H7, tòa án đã yêu cầu các đương sự cung cấp tên tuổi địa chỉ nhưng các đương sự không cung cấp Tại phiên tòa, bà O, ông T, ông H khai ông H7 có vợ nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh H7 có vợ và tên tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở xem xét.
Tòa án cũng đã triệu tập ông Bùi Khánh T4 tham gia vụ án với tư cách người làm chứng để trình bày về nguồn gốc và diện tích phần đất ông T4 chuyển nhượng cho ông K.
-Về đánh giá tài liệu chứng cứ: như đã phân tích tại mục [2], việc tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không chính xác. Nội dung kháng nghị này của VKS là có căn cứ, cần được chấp nhận.
[3.3]. Về án phí
Bản án sơ thẩm quyết định các đồng bị đơn ông H, ông T, bà O và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T1 là bà T2, anh Thế A, chị T3 và anh H1 mỗi người phải chịu mức án phí là 43.000đ là vi phạm quy định của khoản 2 Điều 26 nghị quyết 326. Do cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chỉ chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên sẽ xác định lại án phí của các đương sự phải chịu theo quy định.
Ngoài ra bản án sơ thẩm nhận định và quyết định diện tích đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông K là 106,2m² và số tiền án phí trả lại cho ông Nguyễn Văn K1 là không đúng. Nội dung kháng nghị này của Viện kiểm sát là có căn cứ để chấp nhận.
Tại bản án sơ thẩm, Tòa án sơ thẩm nhận định “chi phí xem xét thẩm định tại chỗ 3.000.000 đồng, nguyên đơn ông Vũ Văn K tự nguyện chịu; không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết ” là đúng quy định của pháp luật, tuy nhiên phần quyết định không tuyên là thiếu sót.
[3] Về chi phí tố tụng: chi phí xem xét thẩm định tại chỗ ở cấp sơ thẩm 3.000.000 đồng, nguyên đơn ông Vũ Văn K tự nguyện chịu; không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại cấp phúc thẩm chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 6.000.000đ, ông K đã tạm ứng 7.000.000đ, số tiền 1.000.000đ còn thừa đã được trả lại cho ông K. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông K và các bị đơn thống nhất mỗi bên chịu ½ chi phí thẩm định tại cấp phúc thẩm, bà O tự nguyện chịu phần chi phí thẩm định cho các bị đơn khác. Xét thấy thỏa thuận này của các đương sự trên tinh thần tự nguyện, không vi phạm quy định pháp luật nên cần được chấp nhận.
3] Về án phí phúc thẩm: do kháng cáo của ông H, ông T và bà O được chấp nhận 1 phần nên ông H, ông T và bà O không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 313, khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng Dân sự, chấp nhận một phần kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh; chấp nhận 1 phần kháng cáo của ông Nguyễn Bích H, ông Nguyễn Hữu T và bà Nguyễn Thị Kim O. Sửa bản án sơ thẩm.
Áp dụng: khoản 1 Điều 12; Điều 100, 106, khoản 7 Điều 166; khoản 1 điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 166; Điều 615 Bộ luật dân sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Vũ Văn K.
- Các bị đơn ông Nguyễn Bích H, ông Nguyễn Hữu T, bà Nguyễn Thị Kim O, bà Nguyễn Thị V, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Xuân T1 là bà Nguyễn Thị Bích T2, anh Nguyễn Thế A, chị Nguyễn Thị Huyền T3 và anh Nguyễn Tiền H1; người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Bích H7 là anh Nguyễn Hữu H3 có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn Vũ Văn K phần diện tích đất là 9,6m² được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11,1 thuộc thửa đất số 101, tờ bản đồ số 61 đã được Ủy ban nhân dân thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AC 153681, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 10411 ngày 19/4/2005 mang tên ông Vũ Văn K; địa chỉ thửa đất tổ I khu A (nay là tổ B khu F) phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh.
Ông Vũ Văn K có trách nhiệm tháo dỡ phần công trình mái tôn 2.6m² nằm trên khoảng không của cống thoát nước.
(Vị trí, diện tích, kích thước đất, mái tôn
cụ thể có sơ đồ đo vẽ kèm theo bản án)
Ông Vũ Văn K có trách nhiệm đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
UBND thành phố H có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ công vụ về việc đăng ký quyền sử dụng đất đối với ông K theo đúng quy định của pháp luật.
- Án phí dân sự :
- Ông Nguyễn Hữu T phải chịu 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0000168 ngày 06/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, Quảng Ninh. Ông T đã nộp đủ tiền án phí.
- Bà Nguyễn Thị Kim O phải chịu 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0000163 ngày 06/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, Quảng Ninh. Bà O đã nộp đủ tiền án phí.
- Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Nguyễn Xuân T1 là bà Nguyễn Thị Bích T2, anh Nguyễn Thế A, chị Nguyễn Thị Huyền T3 và anh Nguyễn Tiền H1 phải chịu 300.000đ ( ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Vũ Văn K phải chịu 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002035 ngày 15/01/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Ông K đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm cho cho ông Nguyễn Bích H.
- Về chi phí tố tụng khác:
- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ ở cấp sơ thẩm là 3.000.000 đồng, nguyên đơn ông Vũ Văn K tự nguyện chịu; không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ ở cấp phúc thẩm là 6.000.000đ. Ông K đã tạm ứng số tiền trên. Ông K phải chịu 3.000.000đ (Ba triệu đồng) và Bà O phải thanh toán chi phí thẩm định cho ông K 3.000.000₫ (Ba triệu đồng).
- Kể từ ngày anh Vũ Văn K có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi chị Nguyễn Thị Kim O thi hành án xong, bà O còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Duy Ước |
10
Bản án số 35 /2024/DS-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 35 /2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
