|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35 /2024/HS-ST Ngày: 16 – 4 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Chân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Phước Cường và bà Trương Thị Bích Tuyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Chí Nam, Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:
Lương Tấn T, sinh năm 1992; nơi sinh: huyện K, tỉnh Đắk Lắk; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk; chỗ ở hiện nay: khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: đạo Phật; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Ngọc S (chết) và bà Hồ Thị H, sinh năm 1956; vợ Nguyễn Thị H1; con có 02 người: lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; anh chị em ruột có 05 người, bị cáo là người thứ năm.
Tiền án:
Ngày 29/01/2019, Tòa án nhân dân Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh kết án 10 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 26/11/2021, Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc kết án 02 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, (bản án xác định “Tái phạm”) đến ngày 24/4/2023, chấp hành xong.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 13/11/2023 cho đến nay.
Bị hại:
- Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1970, nơi cư trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang;
- Bà Trương Thị Trang H2, sinh năm 1993, nơi cư trú: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Mai Lâm Thanh T2, sinh năm 1984, nơi cư trú: Khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền tiêu xài và đánh bạc, khoảng 23 giờ 30 phút ngày 10/11/2023, T vào Bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh An Giang, đợi đêm khuya, bệnh nhân và thân nhân nuôi bệnh đã ngủ, lén vào phòng không đóng khóa cửa, đến khoảng 02 giờ 30 phút ngày 11/11/2023, T đến tầng trệt, Khoa N, lén vào Phòng bệnh số 3 lấy 01 điện thoại di động hiệu Oppo A31 của Trương Thị Trang H2 và 02 điện thoại di động (01 diện thoại hiệu S1 J5 Prime; 01 diện thoại hiệu SamSung Galaxy A14 của Nguyễn Thị T1 (mẹ ruột H2, cả hai đang nuôi bệnh). Đến khoảng 09 giờ cùng ngày, T mang 02 điện thoại hiệu Oppo A31 và S1 A14 đến của hàng điện thoại di dộng "Thanh Tuấn", tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, bán cho Mai Lâm Thanh T2 (chủ cửa hàng), được 3.500.000 dồng, T tiêu xài và đánh bạc thua hết; còn điện thoại SamSung Galaxy J5 Prime, T giữ lại sử dụng. Phát hiện mất trộm, T1 đến Cơ quan Công an trình báo. Đến ngày 13/11/2023, T đầu thú, thừa nhận lấy trộm, đem bán như nêu trên, giao nộp điện thoại đang sử dụng. Riêng T2, không biết 02 điện thoại do T lấy trộm, giao nộp lại điện thoại Oppo A31; còn điện thoại SamSung Galaxy A14 dã bán cho người khách (không rõ lai lịch), không thu hồi được.
Vật chứng thu giữ: 01 diện thoại di động hiệu Oppo A31, màu xanh trắng, ốp lưng bằng nhựa màu trắng trong suốt; 01 điện thoại di động hiệu S1 J5 Prime, màu hồng, ốp lưng bằng nhựa màu trắng hình trái dâu (đã trao trả cho các bị hại H2 và T1), quần áo và dép của T sử dụng liên quan dến vụ án (có biên bản thu giữ lưu hồ sơ vụ án; bàn giao Cơ quan Thi hành án dân sự).
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 751/KL-ĐG ngày 16/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận:
01 điện thoại di động hiệu Oppo A31, màu xanh trắng, ốp lưng bằng nhựa màu trắng trong suốt, trị giá 1.800.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu S1 J5 Prime, màu hồng, ốp lưng bằng nhựa màu trắng hình trái dâu, trị giả 400.000 đồng: 01 diện thoại di động hiệu SamSung A14, màu tím, ốp lưng bằng nhựa màu xanh, trị giá 2.700.000 đồng. Tổng cộng 4.900.000 đồng.
Ngày 20/11/2023 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C ban hành các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối về hành vi “Trộm cắp tài sản".
Cáo trạng số: 15/CT-VKSCĐ-HS ngày 29/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Lương Tấn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận để có tiền tiêu xài và đánh bạc, đã thực hiện hành vi trộm cắp của T1, H2 như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Bị hại T1, H2 đã nhận lại tài sản và tiền, không yêu cầu bồi thường.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội:
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lương Tấn T 03 năm đến 04 năm tù
Về hình phạt bổ sung, do bị cáo không có nghề nghiệp nên đề nghị không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý trong giai đoạn điều tra là đúng quy định nên không đề cập đến. Riêng, quần áo và dép của Lương Tấn T sử dụng liên quan đến vụ án, không giá trị nên tịch thu tiêu hủy
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và tiền bồi thường, người liên quan T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã giao dịch nên không đề cập xem xét giải quyết.
Về các vấn đề khác:
Đối với việc bị cáo khai qua biên giới Campuchia đánh bạc, ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ khác. Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.
Đối với Mai Lâm Thanh T2 khi mua điện thoại do bị cáo bán, không biết tài sản lấy trộm, tuy không xử lý nhưng cần giáo dục, công khai tại phiên tòa.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Sự vắng mặt của các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quyết định vẫn tiến hành xét xử.
[3] Về hành vi phạm tội
Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi trộm cắp của các bị hại T1, H2 01 điện thoại di động hiệu Oppo A31, 01 điện thoại di động hiệu S1 J5 Prime và 01 điện thoại di động hiệu SamSung A14, theo kết luận định giá tài sản số 751/KL-ĐG ngày 16/11/2023 tổng trị giá là 4.900.000 đồng.
Đối chiếu lời khai nhận hành vi của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị hại, các biên bản xác minh, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập, có căn cứ xác định, bị cáo Lương Tấn T đã bị kết án với tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm”, về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa xóa án tích, tiếp tục có hành vi trộm cắp tài sản. Tổng trị giá 4.900.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về tính chất vụ án
Xét thấy, quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền được pháp luật ghi nhận và bảo vệ, những ai xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xem thường pháp luật, cần có hình phạt tương xứng, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo Lương Tấn T là người có nhân thân xấu nhiều lần bị kết án. Điều đó cho thấy, bị cáo ý thức chấp hành pháp luật và quy định thấp, khả năng tự cải tạo, tu dưỡng, rèn luyện kém.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đầu thú, học vấn thấp, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo A31, màu xanh trắng, có ốp lưng bằng nhựa màu trắng trong suốt, trị giá 1.800.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu S1 J5 Prime, màu hồng, có ốp lưng bằng nhựa màu trắng hình trái dâu, trị giá 400.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu SamSung A14, màu tím, có ốp lưng bằng nhựa màu xanh, trị giá 2.700.000 đồng. Tất cả đã qua sử dụng, đã trao trả cho bị hại T1 và H2, nên không đề cập giải quyết.
- Đối với 01 cái áo khoát, chất liệu vải, tay dài, màu xám; 01 cái quần lửng, chất liệu vải, màu xám; 01 đôi dép da, nhựa màu nâu, trên dép có chữ pedro là trang phục bị cáo dùng vào việc phạm tội, xét tịch thu tiêu hủy.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan T2 không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền đã giao dịch nên không đề cập xem xét giải quyết.
[9] Vấn đề khác: Đối với hành vi của bị cáo qua biên giới Campuchia đánh bạc trái phép, không bắt quả tang, không có căn cứ xử lý.
Đối với Mai Lâm Thanh T2 khi mua điện thoại do bị cáo bán, không biết tài sản lấy trộm, tuy không xử lý nhưng cần công khai giáo dục tại phiên tòa
[10] Về án phí: Bị cáo Lương Tấn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Lương Tấn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Xử phạt Lương Tấn T 02 (hai) năm 06 tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị tạm giam ngày 13/11/2023 (Ngày mười ba tháng mười một năm hai nghìn không trăm hai mươi ba).
- Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy do không còn giá trị sử dụng 01 cái áo khoát, chất liệu vải, tay dài, màu xám ; 01 cái quần lửng, chất liệu vải, màu xám ; 01 đôi dép da, nhựa màu nâu, trên dép có chữ pedro.
(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11 tháng 4 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc)
- Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Lương Tấn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Quang Chân |
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuấn T phạm tội Trộm cắp Tài sản
