Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày 16 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Cao Thị Lan Anh.
  • Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thái Bình và bà Nguyễn Thị Hồng.
  • Thư ký phiên tòa: bà Đỗ Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Xuân Vọng- Kiểm sát viên.

Trong ngày 16/4/2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2024/TLST-HS ngày 22/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Hữu N; tên gọi khác: không; sinh ngày 10 tháng 02 năm 1986 tại H, Quảng Ninh; nơi thường trú: tổ B, khu T, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Hữu Đ và bà Nguyễn Thị D; vợ: Nguyễn Thị T; con: 01 con; sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 25/5/2010, cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm G1. Đến ngày 15/3/2012 về địa phương; ngày 26/9/2012, Công an thị trấn T, huyện H (nay là thành phố H) tỉnh Quảng Ninh xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản”; ngày 27/6/2013, cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm Giáo dục Lao động - Xã hội tỉnh Q; ngày 03/12/2013, bị Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xử phạt 07 năm tù, về tội “Cướp tài sản”. Đến ngày 20/7/2020 chấp hành xong Bản án; bị bắt quả tang ngày 21/12/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q - có mặt.

* Người làm chứng: anh Nguyễn Xuân D1; anh Diệp Quý K - đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 14 giờ 00 phút ngày 21/12/2023, tại khu vực tổ E, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Hữu N có hành vi tàng trữ trái phép 0,354 gam ma túy; loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an thành phố C bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: trong tay phải của Phạm Hữu N 01 túi nilon kích thước (02x02)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng.

Tại phiên tòa, Phạm Hữu N khai nhận: Nam sử dụng ma túy đá (loại Methamphetamine) từ năm 2010. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 21/12/2023, N ngồi uống nước tại khu vực hồ C, phường C, thành phố C, thì có nhu cầu sử dụng ma túy. Tại đây, N hỏi người đàn ông tên H (không rõ nhân thân, lai lịch) biết người này bán ma túy, N đã mua của H 01 (một) gói ma túy, với giá 300.000 đồng. Sau đó, N cầm gói ma túy ở tay phải rồi đi bộ tìm nơi sử dụng, khi đi đến khu vực tổ E, khu C, phường C, thì bị Công an kiểm tra, bắt giữ. Số tiền 300.000 đồng sử dụng mua ma túy là tiền riêng của N do lao động mà có.

Tại Bản kết luận giám định số 1816/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Q, kết luận: chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon, kích thước (02x02)cm, thu giữ của Phạm Hữu N là ma túy, loại Methaphetamine, khối lượng 0,354 gam, hoàn lại 0,3 gam mẫu vật gửi giám định.

Tại bản Cáo trạng số 25/CT-VKSCP ngày 22/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh truy tố Phạm Hữu N tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả trình bày lời luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: xử phạt Phạm Hữu N mức án từ 15(mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt; về vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy số ma túy và vỏ bao gói trong niêm phong hoàn lại sau giám định; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được qui định trong Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên toà bị cáo khai nhận hành vi cất giữ 0,354 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng đúng như bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra đồng thời phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, bản ảnh vật chứng, phù hợp với lời khai của những người làm chứng anh Nguyễn Xuân D1, anh Diệp Quý K cùng với lượng 0,354 gam Methamphetamine vật chứng thu giữ thể hiện tại kết luận giám định số 1816/KL-KTHS ngày 26/12/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh Q, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Hồi 14 giờ 00 phút ngày 21/12/2023, tại tổ E, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Phạm Hữu N có hành vi tàng trữ trái phép 0,354 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự nên có cơ sở chấp nhận lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tại phiên tòa.

[3] Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy mà còn tiếp tay cho các đối tượng mua bán ma tuý khác gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Mặc dù, hiểu rõ tác hại của ma túy song do ý thức chấp hành pháp luật kém, để phục vụ cho nhu cầu sử dụng của mình bị cáo đã cất giữ một lượng ma túy là 0,354 gam trong người. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội.

[4] Xét tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng, không tiền án, tiền sự song có nhân thân xấu, đã đi cai nghiện bắt buộc, từng bị xử lý hành chính và bị Toà án xét xử tuy đã được xoá án tích song bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi tàng trữ một lượng ma tuý không nhỏ nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.

[5] Hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung song xét bị cáo là đối tượng nghiện, không nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.

[6] Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ trong vụ án: 0,354 gam Methamphetamine, sau giám định hoàn lại 0,3 gam cùng toàn bộ vỏ bao gói mẫu Methamphetamine là vật Nhà nước cấm lưu hành cùng 01 vỏ bao gói là vật không còn giá trị sử dụng trong niêm phong số 1816/KL-KTHS cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Đối với người bán ma túy cho N, theo N khai tên H, do không xác định được nhân thân, lai lịch, nên không đủ cơ sở để điều tra, làm rõ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Phạm Hữu N phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt: Phạm Hữu N 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt ngày 21/12/2023.

  • Về vật chứng: căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu huỷ 01 (một) phong bì còn nguyên dấu niêm phong số 1816/KL-KTHS của Phòng K3 Công an tỉnh Q; tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng số 70/BB-THA ngày 28/3/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
  • Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  • Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh QN;
  • - VKSND tỉnh QN;
  • - VKSND TP.Cẩm Phả;
  • - CQ CSĐT CA TP.Cẩm Phả;
  • - CQ THAHS Công an TP.Cẩm Phả ;
  • - Chi cục THADS TP.Cẩm Phả;
  • - Trại tạm giam công an tỉnh Quảng Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Hữu N phạm tooij tàng trữ TP chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger