Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÀU BÀNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày: 16-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Xuyến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Mai Khanh;

Ông Nguyễn Minh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Quế Trâm, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1997 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số E, Lô B, Chung cư N, khu phố B, phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi sinh sống: ấp B, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Trần Thị T2; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt phạm tội quả tang ngày 16 tháng 12 năm 2023 và tạm giữ, đến ngày 25 tháng 12 năm 2023 tạm giam, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1968; nơi cư trú: tổ D, ấp B, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Nguyễn Văn T bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine (ma túy đá) từ năm 2016; sau đó ngưng, đến đầu tháng 12 năm 2023 thì T sử dụng lại, hình thức sử dụng là hút. Ngày 12 tháng 12 năm 2023, T được một người bạn tên N (không rõ họ tên, địa chỉ) giới thiệu địa điểm mua ma túy đá trên đường X, đoạn gần Khu D, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến nơi, T gặp người đàn ông tên L (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 1.600.000 đồng ma túy được 07 đoạn ống hút nhựa bên trong có chứa ma túy được hàn kín hai đầu và 01 túi nilon miệng kéo dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng. Sau đó, T mang số ma túy vừa mua về nơi T thuê ở là phòng trọ số 3, nhà trọ ông Phạm Văn H, ấp B, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương và cất giấu bên dưới tấm nệm trong phòng trọ. Tối ngày 15 tháng 12 năm 2023, Nguyễn Văn T3 đến phòng trọ của T chơi và ngủ lại. Đến khoảng 02 giờ ngày 16 tháng 12 năm 2023, Công an xã H kiểm tra hành chính phòng trọ của T và phát hiện số ma túy trên cất giấu bên dưới tấm nệm và dụng cụ sử dụng ma túy đá cất giấu tại nhà vệ sinh trong phòng trọ của T. Công an xã H tiếp nhận ban đầu, sau đó thông báo đến Công an huyện B tiến hành thụ lý, điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận sự việc phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông H vắng mặt tại phiên tòa; quá trình điều tra, truy tố, ông H không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về các vấn đề khác của vụ án:

Theo Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 16 tháng 12 năm 2023 (bút lục số 04 và 05), Công an xã H đã thu giữ của bị cáo T: 01 túi nilon miệng kéo dính bên trong có 07 đoạn ống hút nhựa trong được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và 01 túi nilon trong miệng kéo dính bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (T khai là ma túy đá); 01 bình nhựa trong, nắp màu xanh lá, trên nắp bình có gắn 01 đoạn ống hút nhựa và 01 ống hút thủy tinh (T khai là dụng cụ sử dụng ma túy đá).

Theo Kết luận giám định số 27/KL-KTHS(MT) ngày 21 tháng 12 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận (bút lục số 45): mẫu tinh thể màu trắng, gửi giám định đều là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,2111 gam (M1) và 1,4769 gam (M2).

Đối với 0,1950 gam (M1) và 1,4539 gam ma túy (M2) thành phần Methamphetamine, là số lượng ma túy được hoàn lại sau khi giám định, xét thấy đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với bộ D2 sử dụng ma túy gồm 01 bình nhựa trong, nắp màu xanh lá, trên nắp bình có gắn 01 đoạn ống hút nhựa và 01 ống hút thủy tinh là vật chứng không có giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Đối với Nguyễn Văn T3 không góp tiền mua ma túy chung với T, không sử dụng chung ma túy với T và không biết việc T cất giấu ma túy tại phòng trọ của T; kết quả xét nghiệm ma túy cho thấy T3 âm tính với ma túy nên không có căn cứ xử lý đối với T3.

Đối với đối tượng bán ma túy cho T không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý và tiếp tục xác minh.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Kiểm sát viên và bị cáo không có ý kiến gì về các vấn đề trên. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông H vắng mặt tại phiên tòa; quá trình điều tra, truy tố, ông H không có ý kiến gì về các vấn đề trên.

Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:

Bản Cáo trạng số 23/CT-VKSBB ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử quyết định:

Về mức hình phạt: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Về xử lý vật chứng:

Khối lượng ma túy hoàn lại sau giám định gồm 0,1950 gam (M1) và 1,4539 gam (M2) loại Methamphetamine là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

01 bình nhựa trong, nắp màu xanh lá, trên nắp bình có gắn 01 đoạn ống hút nhựa và 01 ống hút thủy tinh là vật chứng không có giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

Tại phiên tòa, bị cáo T không tranh luận gì về quyết định truy tố và luận tội của của đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo rất ăn năn hối cải về hành vi của bị cáo, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về lo cho mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng

[1.1] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông H vắng mặt tại phiên tòa nhưng không trở ngại cho việc giải quyết vụ án, căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử.

[1.2] Đối với các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án đã được Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình tố tụng, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng này là hợp pháp.

[1.3] Riêng D bản và Chỉ bản của bị cáo do Cơ quan điều tra Công an huyện B thu thập trong quá trình điều tra không có mã vạch tại nơi dán mã vạch của D bản và Chỉ bản là không đúng theo biểu mẫu số 186 và biểu mẫu số 187 ban hành kèm theo Thông tư số 61/2017/TT-BCA ngày 14 tháng 12 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ C quy định về biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về điều tra hình sự nên cần khắc phục trong quá trình điều tra, truy tố những vụ án khác sau này.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: khoảng 02 giờ ngày 16 tháng 12 năm 2023, tại phòng trọ thuộc ấp B, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương, bị cáo đã có hành vi tàng trữ 1,688 gam ma túy loại Methamphetamine (0,2111 gam (M1) và 1,4769 gam (M2)) để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Methamphetamine là chất ma túy quy định tại Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Xét lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, nội dung bản Cáo trạng và diễn biến tại phiên tòa. Do bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy là Methamphetamine có khối lượng 1,688 gam, Cáo trạng đã truy tố bị cáo theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm lớn cho xã hội, không chỉ xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy mà còn là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn về ma túy và các tệ nạn xã hội khác, gây nhức nhối cho mỗi gia đình và toàn xã hội. Vì vậy, việc đưa bị cáo ra xét xử tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn cần thiết.

[4] Để thỏa mãn nhu cầu về sử dụng trái phép chất ma túy mà bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép Methamphetamine. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, ngang nhiên đưa ma túy vào đời sống xã hội, gây khó khăn cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm của Nhà nước ta; đồng thời còn ảnh hưởng đến sức khỏe của chính bị cáo. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử quyết định xử bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

[6] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, xét đề nghị của Kiểm sát viên về mức hình phạt tù đối với bị cáo tại phiên tòa là cao, Hội đồng xét xử quyết định mức hình phạt tù của bị cáo nhẹ hơn đề nghị của Kiểm sát viên là đã đủ răn đe, giáo dục đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy:

- Chất ma túy Methamphetamine trong 01 bì thư được niêm phong ghi số 27/PC09, khối lượng niêm phong: M1 = 0,1950 gam; M2 = 1,4539 gam là vật cấm tàng trữ, lưu hành.

- 01 bình nhựa trong, nắp màu xanh lá, trên nắp bình có gắn 01 đoạn ống hút nhựa và 01 ống thủy tinh là vật chứng không có giá trị.

[8] Đối tượng tên L, khi nào làm rõ nhân thân lai lịch sẽ xử lý sau.

[9] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 12 năm 2023.

[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu và tiêu hủy chất ma túy Methamphetamine trong 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 27/PC09 (là mẫu vật gửi giám định trong QĐTC giám định số 185/QĐ-KTMT) ngày 16 tháng 12 năm 2023 của CQCSĐT - Công an huyện B, tỉnh Bình Dương), có chữ ký và dấu của Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T3 (người chứng kiến); Trần Hoàng H1 (bên trả mẫu); Văn Khánh D1 (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của Phòng KTHS - Công an tỉnh B. Khối lượng niêm phong: M1 = 0,1950 gam, M2 = 1,4539 gam ma túy, loại Methamphetamine.

- Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) bình nhựa trong, nắp màu xanh lá, trên nắp bình có gắn 01 đoạn ống hút nhựa và 01 ống thủy tinh.

(Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng)

Về án phí: căn cứ vào Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6 và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Bàu Bàng;
  • - Công an huyện Bàu Bàng;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • - Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có);
  • - Lưu: hồ sơ, Văn phòng.

Huỳnh Kim Xuyến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T, bị truy tố về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger