Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TU

TỈNH BÌNH DƯƠNG


Bản án số: 35/2021/HS-ST

Ngày: 16-3-2021

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TU, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Văn Hưng;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Thảo;
  2. Ông Lê Q Xẹt.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Yến – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã TU tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Thế - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2021/HSST ngày 22 tháng 01 năm 2021 về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. Trần Lê Q, sinh năm 1997 tại tỉnh Bình Dương; giới tính: Nam; nơi thường trú: Tổ 4, khu phố K, phường P, thị xã TU, tỉnh Bình Dương; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 12/12; con ông Trần Văn C, sinh năm 1969 (đã chết) và bà Lê Thị Bạch T1, sinh năm 1977; chưa vợ, con.

Tiền sự: Bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 14 (Mười bốn) tháng theo Quyết định số 05/QĐ-TA ngày 21/01/2019 của TAND thị xã TU, tỉnh Bình Dương (được miễn chấp hành phần thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại theo Quyết định số 315/2019/QĐ-TA ngày 27/12/2019 của TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương). Tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2020 cho đến nay; có mặt.

2. Lê Quốc Đ (tên gọi khác: Nghĩa), sinh năm 1998 tại tỉnh Sóc Trăng; giới tính: Nam; nơi thường trú: Ấp 7, xã B, huyện S, tỉnh Sóc Trăng; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 10/12; con ông Lê Văn T3, sinh năm 1975 và bà Huỳnh Kim L1, sinh năm 1978; chưa vợ, con; tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2020 cho đến nay; có mặt.

3. Lê Trần Minh N, sinh năm 2000 tại tỉnh Bình Dương; giới tính: Nam; nơi thường trú: Khu phố Phước Thái, phường H, thị xã TU, tỉnh Bình Dương; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 9/12; con ông Lê Văn L, sinh năm 1976 và bà Trần Thị Thu T3, sinh năm 1976; chưa vợ, con; tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2020 cho đến nay; có mặt.

4. Chung Văn N, sinh năm 1996 tại tỉnh Hậu Giang; giới tính: Nam; nơi thường trú: Ấp E, xã YA, huyện U, tỉnh Hậu Giang; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 8/12; con ông Chung Văn H1, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; chưa vợ, con; tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2020 cho đến nay; có mặt.

5. Lê Chí V, sinh ngày 19/11/2002 tại tỉnh Sóc Trăng; giới tính: Nam; nơi thường trú: Ấp Tr, xã A1, huyện D, tỉnh Sóc Trăng; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 6/12; con ông Lê Văn Q, sinh năm 1970 và bà Huỳnh Kim T2, sinh năm 1974; chưa vợ, con; tiền sự, tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/10/2020 cho đến nay; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Chí V: Ông Đỗ Thanh V1 - Trợ giúp viên của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Dương; có mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn H, ông Trần Ngọc Th, ông Nguyễn Hoàng T (đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo Lê Quốc Đ, Lê Chí V và Chung Văn N là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy; loại ma túy mà các bị cáo Đ, V và N thường sử dụng là ma túy đá (Methamphetamine). Bị cáo Đ thường mua ma tuý của bị cáo Trần Lê Q về sử dụng và bán lại cho các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy khác.

Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 07/10/2020, các bị cáo Chung Văn N và Lê Chí V đến phòng trọ số 05 do bị cáo Đ đang thuê tại Tổ 3, khu phố F, phường V, thị xã TU, tỉnh Bình Dương để rủ bị cáo Đ cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, do bị cáo Đ không còn ma túy nên bàn bạc về việc góp tiền mua ma túy về sử dụng chung, trong đó bị cáo N góp 200.000 đồng, bị cáo V góp 200.000 đồng, bị cáo Đ góp 300.000 đồng. Tuy nhiên, các bị cáo V và N không có tiền nên nhờ bị cáo Đ ứng trước, sau này trả lại thì bị cáo Đ đồng ý và mang chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng của mình đi cầm cố được 500.000 đồng. Sau đó bị cáo Đ đến nhà của bị cáo Trần Lê Q tại khu phố K, phường P, thị xã TU, tỉnh Bình Dương hỏi mua 700.000 đồng ma túy đá nhưng chỉ đưa 500.000 đồng và nợ 200.000 đồng thì bị cáo Q đồng ý và đưa cho Đ 02 gói nylon hàn kín bên trong có chứa ma túy đá. Sau khi nhận được ma túy, bị cáo Đ cầm 02 gói ma túy đi về phòng trọ và mang 02 gói ma túy mua được cho các bị cáo V và N xem rồi mang cất dấu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trên địa bàn thị xã TU, tỉnh Bình Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã TU khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với các bị cáo là đúng thẩm quyền. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng.

[2] Về tình tiết định tội và định khung hình phạt: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của các bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 08/10/2020 của Công an phường V và Công an phường P, thị xã TU; kết quả giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:

Vào ngày 07/10/2020, tại khu phố F, phường V, thị xã TU, tỉnh Bình Dương, các bị cáo Lê Quốc Đ, Chung Văn N và Lê Chí V đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 1,9624 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng.

Hành vi của bị cáo Trần Lê Q đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên xử:

1. Tuyên bố các bị cáo Trần Lê Q và Lê Trần Minh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Lê Quốc Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; các bị cáo Chung Văn N và Lê Chí V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

  • Xử phạt bị cáo Trần Lê Q 09 (Chín) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/10/2020.
  • Xử phạt bị cáo Lê Quốc Đ 08 (Tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và 02 (Hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt chung là 10 (Mười) năm tù.
  • Xử phạt bị cáo Lê Trần Minh N 02 (Hai) năm tù.
  • Xử phạt bị cáo Chung Văn N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.
  • Xử phạt bị cáo Lê Chí V 01 (Một) năm tù.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Bình Dương;

- VKSND tỉnh Bình Dương;

- Công an thị xã TU;

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Đào Văn Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2021/HS-ST ngày 16/03/2021 của Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương về mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 35/2021/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/03/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã TU, tỉnh Bình Dương
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Quốc V và đồng phạm phạm tội mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger