Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẮK GLONG

TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày 15 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đình Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Lượng và bà Phạm Thị Hằng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong tham gia phiên toà: Bà Lang Thị Tố - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST - HS, ngày 05 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Phạm Minh T (tên gọi khác: T L), sinh năm 1993 tại An Giang; trú tại: Bon S, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Phạm Thị M; bị cáo có vợ Mai Thị Đài T (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 29 tháng 9 năm 2020 bị Toà án nhân dân thành phố Gia Nghĩa xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại Bản án số 72/2020/HS-ST, đã được xoá án tích; bị bắt tạm giữ ngày 20-4-2024, sau đó chuyển tạm giam - có mặt
  2. Nguyễn Thanh H (tên gọi khác: Z), sinh năm 2003 tại tỉnh Đắk Nông; trú tại: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đăng  (đã chết) và bà Lương Thị D; bị cáo chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ ngày 20-4-2024, sau đó chuyển tạm giam - có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Phạm Thị M, sinh năm 1973, địa chỉ: Bon S, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

- Chị Nguyễn Thị D, sinh năm 1984, địa chỉ: Bon K, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 19-4-2024, do không có tiền để mua ma túy sử dụng nên T bàn với H mang chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 48G1 041.40 của T (đăng ký xe đứng tên bà Phạm Thị M, sinh năm 1973, trú tại Bon S, xã Q, huyện Đ - mẹ T) đi cầm cố để lấy tiền mua ma túy. Do không có giấy đăng ký xe, nên khi T và H mang xe đến một số tiệm cầm đồ trên địa bàn xã Q K để cầm nhưng không được. Sau đó H điều khiển xe mô tô trên chở T đến địa bàn thành phố B, tỉnh Lâm Đồng rồi cầm cố xe mô tô trên tại một cửa hàng mua bán xe máy cũ với số tiền 2.000.000 đồng. Có tiền, T và H đi bộ đến khu vực bến xe thành phố B mua của 02 người đàn ông (không rõ lai lịch) 01 gói ma túy với giá 2.000.000 đồng. Mua được ma túy, T và H đi đến một khu đất trống ven đường, lấy một phần ma túy vừa mua được và bộ dụng cụ T mang theo để sử dụng. Số ma túy còn lại, T dùng bật lửa hàn kín gói nilon lại, tiếp đó H đưa cho T 01 miếng băng keo cá nhân để T bọc gói ma túy lại, rồi T cất gói ma túy này vào túi quần bên phải.

Khoảng 06 giờ sáng ngày 20-4-2024, H và T đón xe khách từ thành phố B về xã Q, huyện Đ. Trên đường đi, T mượn điện thoại di động (nhãn hiệu OPPO F9) của H nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho chị Nguyễn Thị D để hỏi mượn số tiền 300.000 đồng trả tiền xe. Khoảng 9 giờ cùng ngày, khi về đến phòng trọ của Dung tại bon K, xã Q, T và H xuống xe và nhờ chị D ra trả tiền. Đến khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày, khi T và H đang ở phòng trọ của chị D thì bị lực lượng Công an huyện Đắk Glong phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ tang vật.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã thu giữ: 01 gói nilong trong suốt, ba cạnh được nhiệt hóa hàn kín (kích thước 3,5 x 2,2)cm, bên trong có chứa các hạt tinh thể màu trắng, được quấn bên trong 01 miếng băng keo (loại băng keo cá nhân) màu nâu; 01 ống thủy tinh trong suốt, một đầu được thổi phồng thành dạng hình cầu rỗng; 01 ly thủy tinh, bên trên miệng ly gắn 01 ống nhựa tròn, trên đầu ống nhựa gắn 01 nắp nhựa màu xanh, bên trên nắp nhựa có 02 lỗ tròn; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, màu xanh - đen, loại màn hình cảm ứng; 01 túi vải màu đen, kích thước (20 x 10)cm; bên trong có chứa 02 miếng băng keo (loại băng keo cá nhân) màu nâu.

Tại Bản giám định số 194/KL-KTHS, ngày 25-4-2024 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Đắk Nông kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nilon trong suốt, kích thước (3,5 x 2,2)cm, được hàn kín các cạnh (bên ngoài gói nilon được quấn bằng băng keo cá nhân màu nâu) được niêm phong trong bì thư ký hiệu “Mẫu A” gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng mẫu là 1,3509 gam.

Chất rắn màu nâu bám dính trong ống thủy tinh hình cầu được niêm phong trong bì thư ký hiệu “Mẫu B” gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; có khối lượng mẫu là 0,0008 gam.

Tổng khối lượng ma túy của hai mẫu là: 1,3517 gam Methamphetamine.

Hoàn lại đối tượng giám định: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng đựng trong 01 gói nilon trong suốt, kích thước (3,5x2,2)cm được niêm phong trong bì thư ký hiệu “Mẫu A” hoàn lại Cơ quan trưng cầu có khối lượng mẫu là 1,2963 gam, gói nilon, mảnh giấy đựng mẫu được niêm phong trong bì thư có ký hiệu số 194/KL-KTHS và ghi Mẫu A hoàn trả.

- Chất rắn màu nâu bám dính trong ống thủy tỉnh hình cầu được niêm phong trong bì thư ký hiệu “Mẫu B” đã sử dụng hết cho công tác giám định, còn ống thủy tinh đựng mẫu gửi giám định được niêm phong trong bì thư có ký hiệu số 194/KL-KTHS và ghi Mẫu B hoàn trả.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giữ chuyển Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đắk Glong và đề nghị Tòa án tuyên tịch thu, tiêu hủy 1,2963 gam Methamphetamine; 01 ống thủy tinh, 01 túi nilon (nhựa), 01 mảnh giấy loại băng keo cá nhân màu nâu (những đồ vật trên được niên phong trong 02 bì thư hoàn lại sau giám định), 01 ly thủy tinh, bên trên miệng ly gắn 01 ống nhựa tròn, trên đầu ống nhựa gắn 01 nắp nhựa màu xanh, bên trên nắp nhựa có 02 lỗ tròn; 01 túi vải màu đen, kích thước (20 x 10)cm; 02 miếng băng keo (loại băng keo cá nhân) màu nâu (do những đồ vật trên Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng).

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, màu xanh - đen, loại màn hình cảm ứng quá trình điều tra đã xác định không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, ra Quyết định xử lý vật chứng số 452/QĐ-ĐCSHS ngày 06/6/2024 đã trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh H.

Bản cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông truy tố các bị cáo Phạm Minh T và Nguyễn Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng và thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố đối với bị cáo là đúng, không oan.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Phạm Minh T và Nguyễn Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Minh T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; không đề cập hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 1,2963 gam Methamphetamine; 01 ống thủy tinh, 01 túi nilon (nhựa), 01 mảnh giấy loại băng keo cá nhân màu nâu (những đồ vật trên được niên phong trong 02 bì thư hoàn lại sau giám định), 01 ly thủy tinh, bên trên miệng ly gắn 01 ống nhựa tròn, trên đầu ống nhựa gắn 01 nắp nhựa màu xanh, bên trên nắp nhựa có 02 lỗ tròn; 01 túi vải màu đen, kích thước (20 x 10)cm; 02 miếng băng keo (loại băng keo cá nhân) màu nâu (do những đồ vật trên Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng).

Chấp nhận ngày 06-6-2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã ra quyết định xử lý vật chứng số 452/QĐ-ĐCSHS trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, màu xanh - đen, loại màn hình cảm ứng cho Nguyễn Thanh H do không liên quan đến vụ án.

Đối với 02 người đàn ông bán ma túy cho các bị cáo do không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ lý.

Đối với Nguyễn Thị D không biết các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên không đề cập xử lý

Đối với Phạm Thị M giao xe cho T quản lý, sử dụng không biết việc các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên không xử lý.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Thừa nhận hành vi phạm tội của mình, các bị cáo ăn năn, hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Glong, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Các chứng cứ buộc tội và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ pháp lý qua đó xác định: Ngày 19-4-2023, Phạm Minh T và Nguyễn Thanh H đã mua của 02 người đàn ông (không rõ lai lịch) tại thành phố B, tỉnh Lâm Đồng 01 gói ma túy (loại Methamphetaine) với giá 2.000.000 đồng để sử dụng. Số ma túy này, T và H đã lấy một phần ra để sử dụng, phần còn lại T cất giấu trên người. Đến khoảng 10 giờ 10 phút ngày 20-4-2024, T và H mang số ma túy nói trên đến phòng trọ của chị Nguyễn Thị D tại bon Ka La Dơng, xã Q, huyện Đ, thì bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Đắk Glong bắt quả tang và thu giữ khối lượng 1,3517 gam Methamphetamine. Do đó hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...”

[3]. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy, xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của con người, là tiền đề tạo ra những hệ lụy xấu cho đời sống xã hội, ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, do đó phải xử lý nghiêm trước pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo T là người khởi sướng, bị cáo trực tiếp cầm cổ tài sản, mua ma tuý, cất giữ ma tuý, giữ vai trò cao hơn bị cáo H; bị cáo T đã từng bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” nhưng không lấy làm bài học mà tiếp tục phạm tội; bị cáo H tham gia với vai trò giúp sức nên cần xử phạt bị cáo T mức hình phạt cao hơn bị cáo H; cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo tự cải tạo, giáo dục đồng thời răn đe, phòng ngừa chung.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng; về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5]. Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố các bị cáo về tội danh và mức hình phạt đề nghị áp dụng là có căn cứ.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có mức thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Đối với 02 người đàn ông bán ma túy cho các bị cáo (không xác định được nhân thân, lai lịch) nên không có căn cứ xử lý.

Đối với chị Nguyễn Thị D không biết các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên không đề cập xử lý

Đối với Phạm Thị M giao xe cho T quản lý, sử dụng không biết việc các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên không xử lý.

[8]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 1,2963 gam Methamphetamine; 01 ống thủy tinh, 01 túi nilon (nhựa), 01 mảnh giấy loại băng keo cá nhân màu nâu (những đồ vật trên được niên phong trong 02 bì thư hoàn lại sau giám định), 01 ly thủy tinh, bên trên miệng ly gắn 01 ống nhựa tròn, trên đầu ống nhựa gắn 01 nắp nhựa màu xanh, bên trên nắp nhựa có 02 lỗ tròn; 01 túi vải màu đen, kích thước (20 x 10)cm; 02 miếng băng keo (loại băng keo cá nhân) màu nâu (do những đồ vật trên Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng).

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Minh T và Nguyễn Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Minh T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 20-4-2024).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 20-4-2024).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 1,2963 gam Methamphetamine; 01 ống thủy tinh, 01 túi nilon (nhựa), 01 mảnh giấy loại băng keo cá nhân màu nâu (những đồ vật trên được niên phong trong 02 bì thư hoàn lại sau giám định), 01 ly thủy tinh, bên trên miệng ly gắn 01 ống nhựa tròn, trên đầu ống nhựa gắn 01 nắp nhựa màu xanh, bên trên nắp nhựa có 02 lỗ tròn; 01 túi vải màu đen, kích thước (20 x 10)cm; 02 miếng băng keo (loại băng keo cá nhân) màu nâu (do những đồ vật trên Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng).

Chấp nhận ngày 06-6-2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã ra quyết định xử lý vật chứng số 452/QĐ-ĐCSHS trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F9, màu xanh - đen, loại màn hình cảm ứng cho Nguyễn Thanh H do không liên quan đến vụ án

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Đắk Glong;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông;
  • - Công an huyện Đắk Glong;
  • - Bộ phận hồ sơ CA huyện Đắk Glong;
  • - Chi cục THADS huyện Đắk Glong;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú (để biết);
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(ĐÃ KÝ)

Phạm Đình Hưng

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 19-4-2024, do không có tiền để mua ma túy sử dụng nên T bàn với H mang chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển kiểm soát 48G1 041.40 của T (đăng ký xe đứng tên bà Phạm Thị M, sinh năm 1973, trú tại Bon S, xã Q, huyện Đ - mẹ T) đi cầm cố để lấy tiền mua ma túy. Do không có giấy đăng ký xe, nên khi T và H mang xe đến một số tiệm cầm đồ trên địa bàn xã Q K để cầm nhưng không được. Sau đó H điều khiển xe mô tô trên chở T đến địa bàn thành phố B, tỉnh Lâm Đồng rồi cầm cố xe mô tô trên tại một cửa hàng mua bán xe máy cũ với số tiền 2.000.000 đồng. Có tiền, T và H đi bộ đến khu vực bến xe thành phố B mua của 02 người đàn ông (không rõ lai lịch) 01 gói ma túy với giá 2.000.000 đồng. Mua được ma túy, T và H đi đến một khu đất trống ven đường, lấy một phần ma túy vừa mua được và bộ dụng cụ T mang theo để sử dụng. Số ma túy còn lại, T dùng bật lửa hàn kín gói nilon lại, tiếp đó H đưa cho T 01 miếng băng keo cá nhân để T bọc gói ma túy lại, rồi T cất gói ma túy này vào túi quần bên phải. Khoảng 06 giờ sáng ngày 20-4-2024, H và T đón xe khách từ thành phố B về xã Q, huyện Đ. Trên đường đi, T mượn điện thoại di động (nhãn hiệu OPPO F9) của H nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho chị Nguyễn Thị D để hỏi mượn số tiền 300.000 đồng trả tiền xe. Khoảng 9 giờ cùng ngày, khi về đến phòng trọ của Dung tại bon K, xã Q, T và H xuống xe và nhờ chị D ra trả tiền. Đến khoảng 10 giờ 10 phút cùng ngày, khi T và H đang ở phòng trọ của chị D thì bị lực lượng Công an huyện Đắk Glong phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ tang vật.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger