Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST

Ngày 15-7-2024

V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

khi ly hôn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hà

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Mai

Ông Vũ Khắc Tân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân quận Lê Chân.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2024/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 441/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024:

- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị Thúy Q; nơi cư trú: Thôn P, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; có mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Văn Đ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số D L, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng; hiện đang chấp hành án phạt tù tại Phân trại số 2 Trại giam T, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt và có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 22 tháng 11 năm 2023 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Trịnh Thị Thúy Q trình bày:

Chị kết hôn với anh Lê Văn Đ trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và được đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc ngày 19/7/2016. Sau khi tổ chức kết hôn, vợ chồng chung sống cùng với gia đình bố mẹ chị Q tại xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc.

Quá trình chung sống, ngay từ đầu vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Đ ham chơi, không quan tâm chăm lo đến gia đình. Sau khi cưới, chị Q phát hiện anh Đ nghiện ma túy, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã và xô xát. Vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì anh Đ tự ý bỏ đi, anh Đ đi đâu, ở đâu, làm gì chị Q không biết và không liên lạc được. Vợ chồng sống ly thân và cắt đứt mọi quan hệ từ năm 2017 đến nay. Đến năm 2023, chị Q được biết anh Đ vi phạm pháp luật hình sự, phải chấp hành án về tội trộm cắp tài sản. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị Q đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Đ.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Lê Ngọc M, sinh ngày 09/12/2016. Từ khi ly thân tới nay cháu M ở cùng với chị Q. Ly hôn, chị Q có nguyện vọng được tiếp tục nuôi con chung đến khi con đủ 18 tuổi. Chị Q không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai đối với anh Lê Văn Đ tại Phân trại số B Trại giam T, tỉnh Thanh Hóa, anh Đ trình bày: Anh và chị Trịnh Thị Thúy Q xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 19/7/2016. Đến nay vợ chồng có một con chung là Lê Ngọc M sinh ngày 09/12/2016. Hiện anh Đ đang chấp hành án tại Trại giam T về hành vi trộm cắp tài sản. Nay chị Q xin ly hôn anh Đ đồng ý, đề nghị Toà án giải quyết cho vợ chồng được ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lê Ngọc M, sinh ngày 09/12/2016. Hiện nay cháu M đang ở cùng với chị Q. Ly hôn, anh Định đề n Toà án tiếp tục giao con chung cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Hiện tại anh Đ đang chấp hành án tại Phân trại số 2 Trại giam T, tỉnh Thanh Hóa, anh đã trình bày quan điểm, anh đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt anh.

Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ với đại diện chính quyền địa phương nơi anh Đ sống được biết: Anh Lê Văn Đ có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số D L, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng. Hiện anh Đ đang chấp hành án tại Phân trại số 2 Trại giam T, tỉnh Thanh Hóa.

Kiểm sát viên tham gia phát biểu ý kiến tại phiên tòa: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử thấy rằng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Chị Q và anh Đ kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn vì vậy là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Trịnh Thị Thúy Q ly hôn anh Lê Văn Đ; về con chung: Chị Q anh Đ có 01 con chung là Lê Ngọc M, sinh ngày 09/12/2016. Hiện nay anh Đ đang chấp hành án không có khả năng nuôi con, cháu M đang ở cùng với chị Q; đề nghị HĐXX tiếp tục giao con chung cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng, không xét về vấn đề cấp dưỡng nuôi con vì các bên không có yêu cầu; về tài sản chung: Các bên đương sự không có yêu cầu chia tài sản chung nên đề nghị HĐXX không xem xét; về án phí: Chị Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Đây là vụ án tranh chấp ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn là anh Lê Văn Đ; nơi ĐKHKTT: Số D L, phường L, quận L, thành phố Hải Phòng. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

[2] Bị đơn anh Lê Văn Đ hiện đang chấp hành án tại Phân trại số 2 Trại giam T, tỉnh Thanh Hóa không thể có mặt, anh Đ đã có quan điểm và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, do vậy HĐXX căn cứ vào quy định tại điểm khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Lê Văn Đ.

- Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Thị Thúy Q và anh Lê Văn Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 19/7/2016, đã tuân thủ đúng quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp.

[4] Quá trình chung sống do anh Đ nghiện ma tuý nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xô xát. Vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì anh Đ tự ý bỏ đi. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2017 đến nay không còn quan tâm đến cuộc sống riêng của nhau. Đến năm 2023 anh Đ vi phạm pháp luật, hiện đang chấp hành án tại trại giam T, tỉnh Thanh Hóa. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Q đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đ, anh Đ đồng ý với yêu cầu của chị Q. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị Q và anh Đ yêu cầu được ly hôn là phù hợp, cần được chấp nhận theo quy định tại Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Lê Ngọc M, sinh ngày 09/12/2016. Hiện tại anh Đ đang chấp hành án không có khả năng nuôi con, cả anh Đ và chị Q cùng thống nhất đề nghị Tòa án giao con chung cho chị Q trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy việc chị Q có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là phù hợp với nguyện vọng hai bên, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế, phù hợp với quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

[6] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không đặt ra vấn đề giải quyết.

[7] Về tài sản chung: Hai bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

- Về án phí:

[8] Chị Trịnh Thị Thúy Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trịnh Thị Thúy Q và anh Lê Văn Đ.
  2. Về con chung: Giao con chung là Lê Ngọc M, sinh ngày 09/12/2016 cho chị Trịnh Thị Thúy Q trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

  1. Về án phí: Chị Trịnh Thị Q phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước. Số tiền này chị Q đã nộp đủ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005788 ngày 11 tháng 3 năm 2024.
  2. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - UBND x. Tuân Chính, h. Vĩnh Tường, tp.
  • Hải Phòng (ĐKKH ngày 19/7/2016);
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 35/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger