|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15-7-2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thân;
- Ông Nguyễn Văn Út.
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Trung Lợi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Phan Hoàng Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 141/2024/TLST-HNGĐ ngày 03/4/2024 về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXX-ST ngày 27/5/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Đặng Thị Ngọc H, sinh năm 1989; cư trú tại ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt;
- Bị đơn: anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1980; cư trú tại Á, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/4/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Đặng Thị Ngọc H trình bày:
Vào năm 2013, chị H và anh K tự nguyện chung sống vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Sau khi kết hôn, anh chị sống chung hạnh phúc thời gian ngắn sau đó do bất đồng quan điểm nên mỗi người sống một nơi: chị sống ở huyện T, anh sống ở huyện T (cùng tỉnh Tây Ninh). Anh K không quan tâm và chăm sóc cho chị và con chung. Do thấy tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn được nữa nên chị H xin được ly hôn với anh K.
Về con chung: chị và anh K có 01 con chung là Nguyễn Thành D, sinh ngày 06/8/2014, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung theo nguyện vọng của cháu D; không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: chị H không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn là anh Nguyễn Văn K được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án nên không có lời khai.
Tại phiên nguyên đơn và bị đơn vắng mặt;
Đại diện Viện kiểm sát trình bày:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo tuân thủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn ly hôn của chị Đặng Thị Ngọc H, chị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn K; giao 01 con chung là cháu Nguyễn Thành D cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, ghi nhận chị H không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con; về tài sản và nợ chung: chị H không yêu cầu giải quyết; chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát, xét thấy:
[1] Về tố tụng: chị Đặng Thị Ngọc H có đơn đề nghị được xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Văn K vắng mặt dù được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo thủ tục chung.
[2] Về hôn nhân:
Chị Đặng Thị Ngọc H và anh Nguyễn Văn K đã tự nguyện chung sống vợ chồng, có đăng ký kết tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh vào năm 2013, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Chị H trình bày: quá trình chung sống vợ chồng bất đồng quan điểm nên mỗi người sống một nơi, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên yêu cầu được ly hôn với anh K. Anh K không đến Tòa án đưa ra các giải pháp để hàn gắn tình cảm với chị H. Xét thấy các đương sự không có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc gia đình, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H, chị H được ly hôn với anh K.
[3] Về con chung: anh chị có 01 con chung là cháu Nguyễn Thành D, sinh ngày 06/8/2014. Xét yêu cầu của chị H được tiếp tục nuôi cháu D là phù hợp quy định của pháp luật; cháu D cũng có nguyện vọng được sống với chị H sau khi ly hôn nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận chị H không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đặng Thị Ngọc H không yêu cầu giải quyết.
[5] Về án phí: Chị Đặng Thị Ngọc H phải chịu án phí theo quy định.
[6] Ý kiến của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về hôn nhân: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đặng Thị Ngọc H, chị Đặng Thị Ngọc H được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
- Về con chung: giao 01 con chung là cháu Nguyễn Thành D, sinh ngày 06/8/2014 cho chị Đặng Thị Ngọc H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận chị Đặng Thị Ngọc H không yêu cầu anh Nguyễn Văn K cấp dưỡng nuôi con.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
- Về tài sản chung, nợ chung: chị Đặng Thị Ngọc H không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: chị Đặng Thị Ngọc H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo theo biên lai thu số 0004900 ngày 03/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Chị Đặng Thị Ngọc H đã nộp xong án phí dân sự sơ thẩm.
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Oanh |
Bản án số 35/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 35/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
