Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG PHÚ

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/HSST

Ngày: 15/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lê Văn Sơn

Các Hội thẩm nhân dân:

  • + Ông Phạm Văn Giới - Phó Chủ tịch Hội Nông dân huyện Đồng Phú;
  • + Bà Nguyễn Thị Tiên - Cán bộ Đoàn TNCSHCM huyện Đồng Phú;

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Mạnh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 13 và 15 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Đức C, sinh ngày 20/9/2007, tại Bình Phước; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: làm rẫy; Trình độ học vấn: 6/12; con ông Nguyễn Đức M, sinh năm 1988 và bà Lê Thị Đ, sinh năm 1988; Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nơi cư trú: Ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 17/11/2023, bị Công an huyện Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 201/QĐ – XPHC với số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/10/2023 cho đến nay.

2. Họ và tên: Lê Đình Hồng A, sinh năm 2004, tại Bình Phước; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: làm rẫy; Trình độ học vấn: 9/12; con ông Lê Hồng H, sinh năm 1976 và bà Hồ Thị Bạch P, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 17/11/2023, bị Công an huyện Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 199/QĐ – XPHC với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/10/2023 cho đến nay.

3. Họ và tên: Lê Đình H1, sinh ngày 07/4/2007, tại Bình Phước; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: làm rẫy; Trình độ học vấn: 6/12; con ông Lê Hải C1, sinh năm 1985 và bà Nguyễn Thị Hồng Á, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 17/11/2023, bị Công an huyện Đ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 200/QĐ – XPHC với số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã chấp hành xong.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 14/12/2023 cho đến nay.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên:

  • - Nông Thị T, sinh năm: 1987; địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)
  • - Lê Hồng N, sinh năm: 1947; địa chỉ: Khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)

* Đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Đức C: Lê Thị Đ, sinh năm 1988; địa chỉ: Ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)

* Đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Đình H1: Nguyễn Thị Hồng Á, sinh năm: 1989; địa chỉ: Khu phố T, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)

* Người bào chữa cho các bị cáo Lê Đình H1Nguyễn Đức C: Bà Vũ Thị Hải A1 - Trợ giúp viên pháp lý - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 10/10/2023, Nguyễn Đức C đi bộ đến nhà Lê Đình H1 tại khu phố T, thị trấn T, huyện Đ thì gặp H1Lê Đình Hồng A. Sau đó, C mượn xe mô tô biển kiểm soát 93P2 – 539.80 đi cầm nhẫn, sau khi cầm được nhẫn với số tiền 4.000.000 đồng, C quay về trả xe mô tô cho H1, do không có tiền nên Hồng A hỏi mượn 1.500.000 đồng để tiêu xài thì C đồng ý. Lúc này, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên CHồng A cùng nhau góp mỗi người 200.000 đồng để mua ma túy sử dụng (do biết H1 không có tiền nên cả hai không rủ H1 góp tiền), rồi Hồng A lấy điện thoại Iphone 7plus của H1 đăng nhập tài khoản Facebook của Hồng A để nhắn tin qua ứng dụng Mesenger cho người tên “Lê T1” hỏi mua 400.000 đồng ma túy thì người này đồng ý (H1 không biết việc Hồng A lấy điện thoại liên lạc mua ma túy), rồi Hồng A điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 93Z1 - 3547 đến gặp người tên “Bo” lấy ma túy, còn C nói H1 cầm theo bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm 01 nắp nhựa đã gắn sẵn 01 ống thủy tinh phình to một đầu và 01 ống hút nhựa của H1 để lát nữa phục vụ cho việc sử dụng ma túy. Sau đó, H1 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 93P2 - 539.80 chở C đi chuộc điện thoại và đứng chờ Hồng A đi mua ma túy về, khi Hồng A quay lại thì cả ba đi về phòng trọ C đang thuê tại ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước để cùng tổ chức sử dụng ma túy. Về đến phòng, C lấy 01 chai nhựa gắn vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy của H1 mang theo, rồi Hồng A bỏ một ít ma túy mới mua vào trong ống thủy tinh để H1 đốt lên cả ba cùng sử dụng, số ma túy còn lại Hồng A cất giấu phía dưới nệm trong phòng trọ của C. Khi cả ba đang sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã T kiểm tra phát hiện, đồng thời thu giữ số ma túy còn lại phía dưới nệm mà Hồng A cất giấu trước đó. Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản quả tang, niêm phong tang vật, đưa H1, Hồng AC về trụ sở làm việc. Quá trình điều tra, Lê Đình H1, Lê Đình Hồng A, Nguyễn Đức C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.

Căn cứ Kết luận giám định số 1033 ngày 17/10/2023, của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) có trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là Ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,3286 gam; Tinh thể màu vàng (ký hiệu M2) có trong 01 đoạn ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là Ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,0029 gam.

Tại bản Cáo trạng số: 31/CTr -VKS ngày 20/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố các bị cáo Nguyễn Đức CLê Đình Hồng A về các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo các điểm b, c khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Lê Đình H1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, theo các điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức CLê Đình Hồng A phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 50, 55, 58, 90, 91, 98, 101, 103 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C mức án từ 06 năm đến 07 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội theo quy định.

- Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 50, 55, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đình Hồng A mức án từ 08 năm đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội theo quy định.

Tuyên bố bị cáo Lê Đình H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 50, 58, 90, 91, 98, 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đình H1 mức án từ 05 năm 06 tháng năm đến 06 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Đề nghị miễn hình phạt bổ sung do bị cáo chưa thành niên, không có nghề nghiệp ổn định.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật ma túy (Methamphetamine) còn lại sau giám định được niêm phong; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 03 bật lửa;

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức C 1 điện thoại Iphone 6S màu vàng; trả lại cho bị cáo Lê Đình Hồng A 01 điện thoại hiệu OPPO A71K màu xanh; trả lại cho ông Lê Hồng N 01 xe mô tô biển số 89Z1-3547; trả lại cho bà Nguyễn Thị Hồng Á 01 điện thoại Iphone 7plus màu đỏ và 01 xe mô tô biển số biển số 93P2 – 539.80.

* Người bào chữa bà Vũ Thị Hải A1 bào chữa cho các bị cáo Lê Đình H1Nguyễn Đức C: Không tranh luận gì về tội danh đối với các bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, vì bị cáo H1C chưa đủ 18 tuổi, trình độ học vấn thấp; đối với bị cáo Nguyễn Đức C có cha mẹ ly hôn, ở từ nhỏ với bà ngoại. Do đó, đề nghị xử bị cáo Nguyễn Đức C mức án 6 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và 8 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; đề nghị xử bị cáo Lê Đình H1 mức án 5 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Người đại diện hợp pháp của các bị cáo Lê Đình H1Nguyễn Đức C: Không có ý kiến tranh luận gì.

Ý kiến của các bị cáo tại phiên tòa: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, quá trình tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số: 31/CTr -VKS ngày 20/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đã truy tố.

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người liên quan, vật chứng vụ án, đồng thời phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, phù hợp kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 10/10/2023, Lê Đình Hồng ANguyễn Đức C góp mỗi người 200.000 đồng để mua ma túy (loại Methamphetamine), sau đó rủ Lê Đình H1 chuẩn bị bộ D sử dụng ma túy, rồi cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ do C thuê tại ấp S, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Phước thì bị bắt quả tang. Ngoài ra, Nguyễn Đức CLê Đình Hồng A còn có hành vi tàng trữ 0,3286 gam ma túy (loại Methamephetamine) nhằm mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Như vậy, hành vi mà các bị cáo Nguyễn Đức CLê Đình Hồng A thực hiện đã phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 255 và điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;

Hành vi của bị cáo Lê Đình H1 đã phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Hành vi mà các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và trật tự trị an tại địa phương, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội khác. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú đã truy tố các bị cáo như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

Khi thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy, các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Xét tính chất và mức độ của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện là rất nghiêm trọng. Vì vậy, cần xử bị cáo mức án nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mới có tác dụng răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

[3] Về vai trò đồng phạm của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn. Bị cáo Nguyễn Đức CLê Đình Hồng A cùng nhau góp tiền mỗi bị cáo 200.000 đồng để hùn mua ma túy (loại Methamphetamine), bị cáo Lê Đình H1 là người chuẩn bị bộ dụng cụ để sử dụng ma túy, sau đó cùng nhau tổ chức sử dụng, nên các bị cáo cùng vai trò là người thực hành về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tuy nhiên vai trò của các bị cáo Nguyễn Đức CLê Đình Hồng A cao hơn bị cáo Lê Đình H1. Đối với các bị cáo Nguyễn Đức CLê Đình Hồng A còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy do cùng góp tiền để mua ma túy để sử dụng, do đó cùng có vai trò đồng phạm là người thực hành.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, được Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng loại và mức hình phạt nghiêm, tù có thời hạn, mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung là phù hợp.

Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo Nguyễn Đức CLê Đình H1 tuy đã đủ 16 tuổi, nhưng dưới 18 tuổi, nên được áp dụng các điều 90, 91, 98, 101của Bộ luật Hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt đối với các bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, chưa đủ 18 tuổi, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là có cơ sở.

[4] Về xử lý vật chứng: Đối với chất ma túy (Methamphetamine) còn lại sau giám định có trọng lượng là: 0,2678 gam (Đã được niêm phong trong 02 bì thư có hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, ghi vụ số 1033M1 và vụ số 1033M2); 01 Bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm 01 chai nhựa nhãn hiệu Sting có nắp màu trắng được đục thủng 02 lỗ gắn 01 đoạn ống nhựa màu đen; 03 Bật lửa màu trắng, là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, nên cần tuyên tịch thu tiêu huỷ theo quy định.

Đối với các vật chứng: 01 (một) xe mô tô biển số 93Z1 – 3547; 01 (một) xe mô tô biển số 93P2 – 539.80; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7plus màu đỏ; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A71K màu xanh, 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, đây là các tài sản không liên quan đến vụ án, nên tuyên trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.

[5] Đối với Nông Thị T, Lê Hồng N, Nguyễn Thị Hồng Á, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, Viện kiểm sát không đề cập xử lý, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Đình H1, Nguyễn Đức C, Lê Đình Hồng A. Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính, Viện kiểm sát không đề cập xử lý trong vụ án, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với người bán ma túy cho Lê Đình Hồng A, quá trình điều tra không xác định được nhân thân lai lịch nên không có cơ sở để xem xét, xử lý trong vụ án, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với các bị cáo là phù hợp, nên được chấp nhận.

[7] Về quan điểm của Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo Nguyễn Đức CLê Đình H1 đề nghị giảm nhẹ mức hình phạt đối với các bị cáo CH1 như trên được chấp nhận một phần.

[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Đức C, Lê Đình Hồng ALê Đình H1 phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Đức C và Lê Đình Hồng A phạm các tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Lê Đình H1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 50, 55, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đình Hồng A 08 (Tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 (Chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2023.

- Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 50, 55, 58, 90, 91, 98, 101, 103 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức C 06 (Sáu) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 09 (Chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 06 (Sáu) năm 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2023.

- Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 50, 58, 90, 91, 98, 101 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đình H1 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/12/2023.

2. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên:

Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật là chất ma túy (Methamphetamine) còn lại sau giám định có trọng lượng là: 0,2678 gam (Đã được niêm phong trong 02 bì thư có hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, ghi vụ số 1033M1 và vụ số 1033M2); 01 Bộ dụng cụ sử dụng ma túy, gồm 01 chai nhựa nhãn hiệu Sting có nắp màu trắng được đục thủng 02 lỗ gắn 01 đoạn ống nhựa màu đen; 03 Bật lửa màu trắng.

Trả lại cho ông Lê Hồng N: 01 (một) xe mô tô biển số 93Z1 – 3547;

Trả lại cho bà Nguyễn Thị Hồng Á: 01 (một) xe mô tô biển số 93P2 – 539.80; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7plus màu đỏ;

Trả lại cho bị cáo Lê Đình Hồng A: 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo A71K màu xanh;

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức C: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus.

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Nguyễn Đức C, Lê Đình Hồng ALê Đình H1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng.

Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, bản sao bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo luật định.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Đồng Phú;
  • - THADS huyện Đồng Phú;
  • - CA huyện Đồng Phú (03 bản);
  • - TT Lý lịch tư pháp - Sở tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - Phòng PV06 Công an tỉnh Bình Phước;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Văn Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HSST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 35/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức Cường và đp - 249+255
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger