Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 35/2024/HS-ST

Ngày: 15-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Huế

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Trọng Tình

Ông Bồ Quốc Khánh.

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Hữu Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số 22/2024/TLST-HS, ngày 02 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 3 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Thị T, sinh năm 1988, tại tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương; Nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Hùng T1, sinh năm 1963 và bà Trịnh Thị H, sinh năm 1967; bị cáo có chồng tên Nguyễn Văn D, sinh năm 1985; bị cáo có 02 người con, sinh năm 2009 và năm 2014; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13 tháng 9 năm 2023 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Thùy T2, sinh năm 1999; địa chỉ thường trú: Khu phố C, phường C, huyện M, tỉnh Long An; địa chỉ cư trú: Nhà T, ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Cháu Trần Thị Trường L, sinh năm 2010; địa chỉ thường trú: Ấp S, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương.
  2. Người đại diện theo pháp luật: Bà Bùi Thị Ú, sinh năm 1982, là mẹ; địa chỉ thường trú: Ấp S, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương.

  3. Nguyễn Thị Dịu D1, sinh năm 2005; địa chỉ thường trú: Phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương.
  4. Nguyễn Thị X, sinh năm 1994; địa chỉ thường trú: Ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương.
  5. Phạm Thị T3, sinh năm 1989; địa chỉ thường trú: Ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương.
  6. Lê Thị H1, sinh năm 1991; địa chỉ thường trú: Ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương.
  7. Trần Thị Cẩm N, sinh năm 1986; địa chỉ thường trú: Ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương.
  8. Ông Trần Văn Ú1, sinh năm 1995; địa chỉ thường trú: Ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương.
  9. Lê Thị Ngọc T4, sinh năm 2004; địa chỉ thường trú: Ấp S, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương.
  10. Ông Trần Anh D2, sinh năm 1982; địa chỉ thường trú: Ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương.
  11. Đặng Thị M, sinh năm 1996; địa chỉ thường trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương.
  12. Ông Trịnh Hùng M1, sinh năm 1994; địa chỉ thường trú: Ấp Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trịnh Thị T (gọi tắt là T) là chủ tiệm B tại ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương. Năm 2017, Nguyễn Thị Thùy T2 (gọi tắt là Nguyễn T2) mua đồ và nợ tiền của Trịnh T.

Ngày 29/4/2023, Nguyễn T2 lên mạng xã hội Facebook để xem tin tức thì thấy Trịnh T có đăng lên Facebook bằng nick tên “Trịnh Kiều T5” với nội dung tìm kiếm Nguyễn T2 để cho Nguyễn T2 trả nợ nhưng không thấy Nguyễn T2 đến trả tiền. Sau đó, Trịnh T5 tìm đến nơi ở của Nguyễn T2 đòi tiền thì giữa Trịnh T5Nguyễn T2 xảy ra cãi nhau. Trịnh T5 đi về và tiếp tục dùng mạng xã hội Facebook bằng nick tên “Trịnh Kiều T5” để nói xấu bà Nguyễn T2, Nguyễn T2 cũng nhắn lên Facebook để “chửi” Trịnh Trang. Ngày 30/4/2023, có một nick tên “Không Có Tên” nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho Trịnh T5 kèm theo 01 video với thời gian 31 giây về N không mặc quần áo, đang bôi kem, có dung lượng là 1.828 KB và 01 hình ảnh của Nguyễn T2 không mặc quần áo, đang quan hệ tình dục, có dung lượng là 78 KB. Đồng thời, người này nhờ Trịnh T5 đăng lên mạng xã hội Facebook bốc phốt (nói xấu) Nguyễn Trang d.

Sau khi nhận được video và hình ảnh của Nguyễn T2, Trịnh T5 gửi video và hình ảnh trên cho Trần Thị Tường L1, sinh ngày 23/3/2010 là chủ tài khoản mạng hội Facebook có tên là “Ngọcc Dii” qua ứng dụng M2 (Trịnh T5Trần Thị Tường L1 không có quen biết ngoài đời mà chỉ kết bạn facebook), kèm theo nội dung, đăng lên dùm Trịnh T5 nhằm mục đích đòi nợ và nói xấu Nguyễn T2. Sau khi nhận được video và hình ảnh của Nguyễn T2 thì L1 sử dụng nick Facebook “Ngọcc Dii” đăng hình ảnh của Nguyễn T2 (có xóa mờ). Trịnh Trang chia sẻ nội dung Lam đăng và kèm theo nội dung “Trang này đang hot”. Lúc này, nhiều người nhắn tin cho Trịnh T5 để xin video và hình ảnh thì Trịnh T5 chia sẻ video và hình ảnh nêu trên qua ứng dụng Messenger.

Đến ngày 01/5/2023, Trần Thị Tường L1 nhận được video clip và hình ảnh của Nguyễn T2 gồm: 01 video với thời gian 02 phút 09 giây của bà Nguyễn T2 không mặc quần áo và đang bôi kem, có dung lượng là 7.420 KB; 01 hình ảnh của bà Nguyễn T2 đang trong trạng thái không quần áo và đang quan hệ tình dục, có dung lượng là 46 KB; 01 hình ảnh của bà Nguyễn T2 không mặc quần áo và đang quan hệ tình dục có dung lượng là 51 KB từ một nick tên “Nguyễn Đoàn Cẩm T6” trên mạng zalo (không rõ thông tin lai lịch), sau đó L1 gửi lại cho Trịnh T5 tiếp tục chia sẻ cho người khác trên mạng xã hội Facebook.

Đến ngày 02/5/2023, Nguyễn T2 phát hiện video và hình của mình bị phát tán trên Facebook nên đến cơ quan Công an xã Đ trình báo sự việc. Công an xã Đ đã lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra (CQCSĐT) Công an huyện B làm rõ.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ đồ vật gồm:

  • - 01 điện thoại Oppo, màn hình cảm ứng, màu đen do Trịnh T5 giao nộp.
  • - 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung A10S màu đen, màn hình cảm ứng do Trần Thị Tường L1 giao nộp. Đây là tài sản của bà Bùi Thị Ú (mẹ ruột L1), việc L1 sử dụng điện thoại nêu trên để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thì bà Ú không biết. CQCSĐT Công an huyện B đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà U.

Quá trình điều tra xác định, sau khi có video và hình ảnh của Nguyễn T2, Trịnh T5 đã chia sẻ cho nhiều người trên mạng xã hội Facebook, trong đó cơ quan Công an xác minh, làm việc được bà Trịnh T5 chia sẻ cho 11 người có nhân thân, lai lịch, họ tên, năm sinh và địa chỉ cụ thể của Trần Thị Tường L1, Nguyễn Thị Dịu D1, Nguyễn Thị X, Phạm Thị T3, Lê Thị H1, Trần Thị Cẩm N, Trần Văn Ú1, Lê Thị Ngọc T4, Trần Anh D2, Đặng Thị M, Trịnh Hùng M1.

Tại Bản kết luận giám định nội dung văn hóa phẩm số 01/KLGĐ- SVHTTDL ngày 05/9/2023 của Sở Văn hóa, thể thao và Du lịch tỉnh B kết luận như sau: 02 video clip (có tên 351586111221924152, thời lượng 02 phút 08 giây, 7038370881756499364, thời lượng 31 giây) và 03 hình ảnh chứa trong 01 USB hiệu Hoco 32GB có nội dung khiêu dâm, gồm hình ảnh nữ khỏa thân, khiêu gợi, hành động tình dục trái với truyền thống đạo đức, thuần phong mỹ tục dân tộc Việt Nam. Tác hại phim và hình ảnh là đầu độc thị hiếu người xem, gây hậu quả nghiêm trọng đối với xã hội, nhất là đối với thanh thiếu niên. Đây là nội dung nhà nước cấm tàng trữ và lưu hành.

Cáo trạng số 26/CT-VKS-BTU ngày 01/02/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố Trịnh T5 về “Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 326 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Trịnh Trang phạm “Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy” và đề nghị áp dụng Điều 38, điểm b, n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 65, điểm e khoản 2 Điều 326 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo xử phạt bị cáo 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo.

  • - Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại Oppo, màn hình cảm ứng, màu đen là tài sản của Trịnh T5. T5 dùng điện thoại này để nhận và gửi hình ảnh, video nên đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Giữa bị cáo, bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong và không có yêu cầu khác nên không đặt ra.

Tại phiên tòa sơ thẩm: Bị hại Nguyễn T2 trình bày. Bị cáo thừa nhận còn nợ Trịnh T5 chưa thanh toán do chưa có tiền trả. Do bị cáo Trịnh Trang đ thông tin về Nguyễn T2 trên mạng xã hội để đòi tiền; dẫn người qua nơi ở của bà để đe dọa và nhờ người chia sẻ hình ảnh đời tư của bà trên mạng Facebook nên bà giận và có đăng hình ảnh xúc phạm đến T trên Facebok. Sự việc xảy ra cũng một phần do lỗi của bị hại nên bị hại cũng xin lỗi bị cáo, đề nghị bãi nại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo Trịnh T5 trình bày: Bị cáo thừa nhận tội danh, mức hình phạt, điểm khoản, điều luật do Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là đúng; bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai; thấy ân hận về việc đã thực hiện; bị cáo xin lỗi bị hại; sự việc xảy ra do sự nóng vội, thiếu suy nghĩ, thiếu kiềm chế nhất thời của bị cáo dẫn đến làm ảnh hưởng danh dự, nhân phẩm của bị hại; bị cáo không tranh luận và cũng không bào chữa cho hành vi của bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện sửa chữa lỗi lầm, làm công dân tốt, chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của CQCSĐT Công an huyện B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng những người này.

[3] Tại phiên tòa, Trịnh T5 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ kết luận: Ngày 30/4/2023 và ngày 01/5/2023, tại xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương, Trịnh T5 đã sử dụng điện thoại di động có cài đặt ứng dụng Messenge (ứng dụng nhắn tin, gọi điện của mạng xã hội Facebook) gửi, chia sẻ 02 video clip và 03 hình ảnh có nội dung khiêu dâm mà Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cho tổng cộng 11 người trong đó có Trần Thị Tường L1, 13 tuổi. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng vì muốn nhanh đòi được nợ mà cố ý chia sẻ những thông tin có nội dung khiêu dâm, hình ảnh cá nhân của bị hại làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm của bị hại. Hành vi của Trịnh T5 cấu thành tội “Truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy”, được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 326 Bộ luật Hình sự, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do vậy, Cáo trạng số 26/CT-VKS-BTU ngày 01/02/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố Trịnh Thị T là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[4] Điều 32 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền của cá nhân đối với hình ảnh như sau: “Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý”. Khoản 1 và khoản 2 Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân bí mật gia đình như sau: “1. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. 2. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, ..., trừ trường hợp luật có quy định khác”. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến đến xâm phạm vào trật tự công cộng; xâm hại vào thuần phong mỹ tục của dân tộc, làm suy đồi về mặt đạo đức ảnh hưởng đến sự lành mạnh của nền văn hoá xã hội chủ nghĩa; xâm phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh và quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân bị hại được pháp luật bảo vệ theo quy định tại Điều 32 và Điều 38 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, cần có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, hành vi của bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường nhằm khắc phụ hậu quả cho bị hại; bị cáo đang mang thai tháng thứ 5; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có cha là thương binh, ông nội và bà nội là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân huy chương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, n và s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo là phạm tội lần đầu, bị cáo có nhân thân tốt trước khi thực hiện hành vi phạm tội, có 3 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 và 3 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; hành vi của bị cáo một phần có lỗi của bị hại là nợ tiền nhưng không thanh toán; khi bị đòi nợ thì bị hại còn nhắn tin, có lời lẽ chửi mắng, kích động bị cáo làm cho bị cáo thiếu kiềm chế dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và hiện đang mang thai tháng thứ 5. Xét thấy, việc không bắt bị cáo Trịnh T đi chấp hành hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội và không gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo, bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong, các bên không có yêu cầu khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: 01 điện thoại Oppo, màn hình cảm ứng, màu đen là tài sản của Trịnh T. Trịnh T dùng điện thoại này để nhận và gửi hình ảnh, video nên đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước.

[10] Đối với hành vi đăng Facebook của Trần Thị Tường L1 đăng facebook, gửi Messenger hình ảnh và video có nội dung khiêu dâm, thời điểm thực hiện hành vi ngày 01/5/2010, L1 sinh ngày 23/3/2010 mới 13 tuổi 1 tháng 7 ngày nên chưa đủ tuổi truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[11] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, mức hình phạt, xử lý vật chứng và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Trịnh T phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 38, điểm b, n, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 65 điểm e khoản 2 Điều 326 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1, 4 Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

  1. Tuyên bố bị cáo Trịnh Thị Trang p “Tội truyền bá Văn hóa phẩm đồi trụy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trịnh Thị T 3 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là (5) năm, tính từ ngày xét xử sơ thẩm ngày 15/5/2024.

    Giao bị cáo Trịnh Thị T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Không.
  4. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Oppo, màn hình cảm ứng, màu đen.
  5. Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

  6. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trịnh Thị T phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND tỉnh Bình Dương (01);
  • - PV 06, Công an tỉnh Bình Dương (01);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND huyện Bắc Tân Uyên (01);
  • - Công an huyện Bắc Tân Uyên (01);
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Tân Uyên (01);
  • - Người tham gia tố tụng (03);
  • - Lưu: HS, VT (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Bích Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy)

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án về tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy theo Điều 326 BLHS năm 2015
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger