Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
Bản án số: 35/2024/HS-ST
Ngày 15 - 4 - 2024

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sinh

Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Minh Đức và ông Lê Quốc Ngưu

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Võ Thế Dân - Kiểm sát viên.

Ngày 15 - 4 - 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 34/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST-HS ngày 02/4/2024 đối với các bị cáo sau:

Nguyễn Văn T. Sinh ngày 16/12/1992 tại Thành phố Hải Phòng. Nơi thường trú: Thôn E, xã T, huyện V, Thành phố Hải Phòng. Nơi ở: Không có nơi ở nhất định. Giới tính: Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 6/12. Cha tên Nguyễn Văn Q; sinh năm: 1957; Mẹ tên Vũ Thị H, sinh năm: 1960; Gia đình bị cáo có 3 chị em, bị cáo là con nhỏ nhất. Bị cáo chưa có vợ. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 26/01/2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 năm 6 tháng tù theo bản án số 18/2010/HS-PT. Ngày 13/4/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, Thành phố Hải Phòng xử phạt 06 năm về tội “Cướp tài sản”, tổng hợp hình phạt là 12 năm 6 tháng tù theo bản án số 46/2010/HS-ST. Chấp hành án tại Trại giam Xuân Nguyên – Cục C Bộ C1 đến ngày 01/12/2016 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương sinh sống (Đã đương nhiên được xóa án tích).

Bị cáo đầu thú. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/10/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh G. Có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: Ông Vũ Đình K – Luật sư của Văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh G. Có mặt.

* Bị hại: Anh Nguyễn Khương D, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn Đ, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị H, sinh 1960; địa chỉ: Thôn E, xã T, huyện V, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

* Người làm chứng:

  • - Cháu Hà Thu N, sinh năm 2008; địa chỉ: Thôn Đ, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • - Cháu Hà Thị Ánh N1, sinh năm 2011; địa chỉ: Thôn Đ, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
  • - Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn Đ, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. (Chị Nguyễn Thị H1 là người đại diện theo pháp luật của cháu Hà Thu N và cháu Hà Thị Ánh N1). Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

    Năm 2008 chị Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1987) và anh Hà Văn T1 (sinh năm 1987) cùng trú tại thôn Đ, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai) kết hôn và chung sống với nhau có 02 con chung là Hà Thu N (sinh năm 2008), Hà Thị Ánh N1 (sinh năm 2011). Đến tháng 8/2020 chị Nguyễn Thị H1 và anh Hà Văn T1 ly hôn. Nguyễn Thị H1 được quyền nuôi hai con, cháu Hà Thu N thì ở cùng bà ngoại là bà Trần Thị L (sinh năm 1966, trú tại thôn Đ, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai), còn cháu Hà Thị Ánh N1 ở cùng chị H1. Nhà chị H1 cách nhà bà L khoảng 50m.

    Đến khoảng đầu năm 2022, chị H1 đi làm công nhân tại TP . và có quan hệ yêu đương với Nguyễn Văn T, chị H1 cũng nói cho T biết về tình trạng hôn nhân của mình. Khoảng tháng 3 năm 2023, chị H1 cùng T đến làm công nhân tại công ty C2 tại huyện C, tỉnh Gia Lai. Do thời gian làm việc tại công ty C2 không đạt yêu cầu, T bị cho nghỉ việc nên T quay lại TP ., tỉnh Đồng Nai làm công nhân. Còn chị H1 vẫn tiếp tục làm thuê cho công ty chuối. Cứ khoảng 02 tuần T về thăm chị H1 một lần và ở tại nhà chị H1.

    Vào ngày 18/7/2023, T từ TP . về nhà của Nguyễn Thị H1 chơi để tổ chức sinh nhật cho cháu Hà Thị Ánh N1. Đến khoảng 11h, ngày 19/7/2023 cháu N đi sang nhà chị H1 thì gặp và hỏi T: “Bao giờ chú về?” thì T đáp: “Chú chơi hai, ba ngày chú về”, N nói tiếp: “Chú về đi, đây không phải nhà chú đâu”. H1 thấy vậy liền nói N đi về nhà bà ngoại.

    Khoảng 16h cùng ngày, khi chị H1 đi làm về thì cháu N qua nhà nói với chị H1 cho N1 sang nhà bà ngoại (bà Trần Thị L) để tổ chức sinh nhật cho N1 thì giữa 2 người xảy ra tranh cãi nhau về việc chị H1 quen Nguyễn Văn T và cho T ở lại nhà. Sau đó, khi T đang ngồi xem điện thoại thì N đến đạp một cái vào mặt T và bảo: “Chú mặt dày thế, đây không phải nhà của chú”. Do bức xúc trước hành động của N, T đứng dậy dùng tay phải tát vào mặt của N một cái và nói: “Ranh con láo toét” thì N có gọi điện cho bố (là Hà Văn T1) nhưng không gọi được nên bỏ đi bộ về nhà bà ngoại. N đi về nhà nói với bà ngoại Trần Thị L và anh Nguyễn Khương D là cậu ruột của N về việc bị T đánh. Nguyễn Khương D nghe thấy vậy thì nói N đi cùng sang nhà chị H1 để gặp T nói chuyện.

    Sau khi xảy ra việc N đạp vào mặt T và T tát lại N; chị H1 thấy sự việc căng thẳng nên nói T cùng H1 lấy xe máy chở cháu N1 lên thị trấn huyện C chơi cho khuây khỏa. Khi chị H1 và T ra trước nhà chuẩn bị đi thì N đi cùng D sang nhà H1. Khi đến nhà của H1, D gặp T ở trước hiên nhà, hai người nói chuyện với nhau về việc T đánh N và xảy ra cãi nhau. D nói với T: “Mẹ mày, ai cho mày có quyền đánh nó”, T trả lời: “Nguyệt chửi và đá vào mặt tôi”. Nhưng D vẫn chửi và dùng tay trái nắm cổ áo của T, dùng tay phải đấm trúng vào má bên trái của T làm T bị ngã xuống trước hiên nhà. T đang ở tư thế ngồi dưới nền đất, hơi ngửa người về phía sau, còn anh D đang trong tư thế đối diện với T, tay trái của anh D đang nắm cổ áo của T, tay phải đang giơ lên để đấm vào mặt T. Lúc này, T đưa tay ra phía sau lưng thì nhặt được một con dao đang để dưới đất ở phía sau lưng nên T đã dùng tay phải cầm con dao này rồi chém anh D. Con dao T sử dụng chém D là của chị H1 sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày, ngày 18/7/2023 chị H1 sử dụng dao để chặt cành cây có vứt gần phía trước hiên nhà (con dao bằng kim loại có tổng chiều dài 38,3cm, phần cán và lưỡi liền với nhau, phần lưỡi dao dài 27,3cm, chỗ rộng nhất trên lưỡi dao là 07cm, phần cán dao bằng kim loại có hình trụ tròn dài 11cm, đường kính 03cm). Do có thể trạng khỏe và trước đó vào buổi trưa D đã uống rượu với anh rể là Hoàng Văn T2 (SN:1984) tại nhà anh T2 ở thôn Đ, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai (cách nhà D khoảng 200m) nên sau khi bị anh T chém, D vẫn tiếp tục ôm, đè T xuống đất và làm con dao trên tay bị can T rơi ra, cả hai vật nhau ở bãi đất cạnh hiên nhà. Thấy vậy, chị H1 đi đến lấy con dao ném vào lô cà phê bên cạnh nhà rồi ôm D lại và nói T chạy đi. T bỏ chạy về phía vườn cà phê sau nhà chị H1. Sau đó D có cầm con dao chặt củi của nhà D chạy đuổi theo về hướng bị can T bỏ chạy để tìm đánh bị can T. Sau khoảng 30 phút đi tìm nhưng không thấy T đâu nên D quay về và được em họ D là Phan Văn H2 (sinh năm:1995, nhà ở cùng thôn) chở D đi cấp cứu Bệnh viện Đa khoa tỉnh G với vết thương trên đầu, đến ngày 27/7/2023 thì xuất viện.

    - Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 39/KLTTCT-TTPY5 ngày 14 tháng 8 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh G kết luận đối với Nguyễn Khương D:

    Các kết quả chính

    • 01 vết thương phần mềm nằm dọc vùng đỉnh thái dương trái.
    • 01 vết mổ nằm dọc vùng đỉnh lệch trái.
    • Chấn thương gây vỡ lún xương sọ vùng đỉnh trái kích thước (6,2x3,5)cm, điện não không có ổ tổn thương tương ứng.
    • Chấn thương gây rách màng cứng, tụ máu ngoài màng cứng vùng đỉnh trái tại thời điểm giám định không còn hình ảnh tổn thương trên phim CT-Scanner.
    • Chấn thương gây dập não, xuất huyết não vùng đỉnh trái đã phẫu thuật tại thời điểm giám định không còn hình ảnh tổn thương trên phim CT-Scanner.

    Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Khương D tại thời điểm giám định là 32% (ba mươi hai phần trăm).

    Kết luận khác:

    • Cơ chế hình thành thương tích: Do sự tác động trực tiếp.
    • Vật gây thương tích: Phù hợp với sự tác động của vật sắc có cạnh bén.

    - Tại Bản kết luận giám định số 1786/KL-KTHS ngày 07 tháng 9 năm 2023 Phân viện KHHS tại TP . kết luận: Trên con dao và mẫu thu tại hiện trường có máu của Nguyễn Khương D.

    Ngày 16/10/2023, sau khi biết Cơ quan Cảnh sát điều tra đang xác minh và truy tìm để làm rõ sự việc nên Nguyễn Văn T đến Công an huyện V, thành phố Hải Phòng đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình.

    - Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bị cáo bồi thường cho bị hại 30.000.000₫.

    Tại Cáo trạng số 49/CT-VKS-P2 ngày 29/2/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T, về tội “Giết người” quy định tại khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

  2. Diễn biến tại phiên tòa:
    • - Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố.
    • - Ý kiến của bị hại: Bị cáo đã bồi thường 30.000.000đ, nay không yêu cầu gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
    • - Người liên quan: Không có yêu cầu gì, đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
    • - Ý kiến của Kiểm sát viên: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
      • Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Giết người”.
      • Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15 Điều 57 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
      • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 06 đến 07 năm tù.
      • Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án không còn giá trị sử dụng: 01 (Một) con dao bằng kim loại dài 38,3 cm, lưỡi dài 27,3cm, rộng 7cm, cán tròn đường kính 3cm dài 11cm .
    • - Ý kiến luật sư bào chữa cho bị cáo:

      Bị cáo không phạm tội giết người như nội dung bản Cáo trạng truy tố; hành vi của bị cáo xuất phát từ việc bị hại chửi bới, có hành vi của bị hại tấn công liên tục gây kích động mạnh về thần kinh; Cáo trạng chưa xem xét toàn diện hành vi và các yếu tố cấu thành tội phạm. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo không phạm tội giết người.

    • - Ý kiến tranh luận của bị cáo: Đồng ý với bản Cáo trạng truy tố bị cáo về tội giết người. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về chấp hành pháp luật tố tụng hình sự: Quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội : Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận do có quan hệ tình cảm với chị Nguyễn Thị H1. Bị cáo T đến nhà chị H1 chơi và ở lại nhưng con gái của chị H1 là Hà Thu N không đồng ý nên xảy ra mâu thuẫn, cháu N dùng chân đá vào mặt T thì bị T dùng tay tát vào mặt. Khi nghe cháu N kể việc, vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 19/7/2023 anh Nguyễn Khương D (là cậu ruột của N) gặp T để nói chuyện. Khi nói chuyện, D đã có hành vi dùng tay đấm làm T ngã xuống sân, D lao đến định đánh tiếp thì bị cáo T nhặt được con dao dưới đất chém 01 nhát trúng vào vùng đỉnh thái dương trái của anh D.

Tại Kết luận giám định số 39/KLTTCT-TTPY5 ngày 14 tháng 8 năm 2023 của Trung tâm pháp y tỉnh G kết luận đối với Nguyễn Khương D:

01 vết thương phần mềm nằm dọc vùng đỉnh thái dương trái; vỡ lún xương sọ vùng đỉnh trái kích thước (6,2x3,5)cm; rách màng cứng, tụ máu ngoài màng cứng vùng đỉnh trái; Chấn thương gây dập não, xuất huyết não vùng đỉnh trái đã phẫu thuật tại thời điểm giám định không còn hình ảnh tổn thương trên phim CT-Scanner.

Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Khương D là 32% (ba mươi hai phần trăm).

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.

Có cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo T dùng dao chém vào vùng đầu là vị trí trọng yếu của cơ thể đe dọa tính mạng của bị hại Nguyễn Khương D, nên đã phạm vào tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự mà bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai truy tố.

[3] Về tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là do xuất phát từ việc người bị hại Nguyễn Khương D có hành vi chửi và dùng tay cổ áo đấm trúng vào má bên trái của T làm T bị ngã xuống trước hiên nhà và định tấn công tiếp nên bị cáo đã dùng dao bằng kim loại dài 38,3 cm, lưỡi dài 27,3cm, rộng 7cm, cán tròn đường kính 3cm dài 11cm chém vào đầu bị hại.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt:

  • - Tình tiết giảm nhẹ: Sau phạm tội bị cáo đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường thiệt hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; phạm tội chưa đạt. Do đó căn cứ điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
  • Tuy nhiên về nhân thân: Ngày 26/01/2010 bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 06 năm 6 tháng tù về tội “Cướp tài sản” theo bản án số 18/2010/HSPT. Ngày 13/4/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, Thành phố Hải Phòng có bản án số 46/2010/HSST xử phạt 06 năm về tội “Cướp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của 02 bản án là 12 năm 6 tháng tù (đã được xoá án tích).
  • - Về hình phạt: Do bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, có nhân thân xấu, nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để răn đe, giáo dục cải tạo riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về dân sự: Bị cáo đã tác động mẹ ruột của là bà Vũ Thị H bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Khương D 30.000.000đ. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu huỷ 01 con dao là công cụ phạm tội.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Giết người”.

    - Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 07 (B) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/10/2023.

  2. Về vật chứng:

    Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu và tiêu hủy 01 (Một) con dao bằng kim loại có tổng chiều dài 38,3cm, phần cán và lưỡi liền với nhau, phần lưỡi dao dài 27,3cm, chỗ rộng nhất trên lưỡi dao là 07cm, phần cán dao bằng kim loại có hình trụ tròn dài 11cm, đường kính 03cm, có dính chất màu nâu nghi máu.

    (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận số 84/2024 lập ngày 07/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh G và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai).

  3. Về án phí:

    Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo kháng cáo Bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng để yêu cầu xét xử xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - VPCQ CSĐT Công an tỉnh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh;
  • - Cục THA Dân sự tỉnh Gia Lai;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - Trại tạm giam T20;
  • - Bị cáo, bị hại, người TGTT khác;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Sinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự (giết người)

  • Số bản án: 35/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội giết người
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger