Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST

Ngày 14/6/2024

“V/v Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng

  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Hoài và ông Lê Phi Long

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 23/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 25/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Diệu L, sinh năm 1997; nơi cư trú: Thôn A, xã N, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đơn đề nghị xử vắng mặt).

- Bị đơn: anh Nguyễn Trọng T, sinh năm 1997; nơi cư trú: Số A Tòa nhà K, 2-3-45 O, thành phố M, tỉnh Hyogo, Nhật Bản, vắng mặt (đề nghị xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Nguyễn Diệu L trình bày:

Chị và anh Nguyễn Trọng T kết hôn ngày 24/6/2021, tại T1 tại O, Nhật Bản. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Đến nay mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, không khắc phục được, mục đích hôn nhân không đạt được, chị yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Trọng T.

Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: không có.

* Tại bản tự khai của bị đơn anh Nguyễn Trọng T (đã được T1 tại O, Nhật Bản hợp pháp hóa lãnh sự ngày 23/5/2024), thể hiện nội dung: về quá trình anh Nguyễn Trọng T và chị Nguyễn Diệu L kết hôn phù hợp với lời trình bày nêu trên của chị Nguyễn Diệu L. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống ở Nhật Bản, cuộc sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Hiện nay chị Nguyễn Diệu L đã về Việt Nam sinh sống và khởi kiện ly hôn anh Nguyễn Trọng T. Anh Nguyễn Trọng T đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Diệu L.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: không có.

Hiện nay anh Nguyễn Trọng T đang ở Nhật Bản, do đường xá xa xôi nên không có điều kiện về Việt Nam để giải quyết vụ án nên đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh không tiến hành hòa giải và giải quyết vắng mặt anh trong tất cả các phiên họp, phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Diệu L và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn”; bị đơn anh Nguyễn Trọng T hiện đang sinh sống, làm việc tại số A Tòa nhà K, 2-3-45 O, thành phố M, tỉnh Hyogo, Nhật Bản. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Chị Nguyễn Diệu L và anh Nguyễn Trọng T đều vắng mặt tại phiên tòa nhưng đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự và công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số: 545/2021 ngày 24/6/2021 của T1 tại O, Nhật Bản, xét thấy chị Nguyễn Diệu L và anh Nguyễn Trọng T tự nguyện đăng kí kết hôn là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, chị Nguyễn Diệu L và anh Nguyễn Trọng T chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2023, thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, chị Nguyễn Diệu L đã về Việt Nam sinh sống. Chị Nguyễn Diệu L thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng kéo dài, không khắc phục được, mục đích hôn nhân không đạt được nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho được ly hôn anh Nguyễn Trọng T, anh Nguyễn Trọng T có quan điểm đồng ý ly hôn với chị Nguyễn Diệu L. Xét thấy chị Nguyễn Diệu L và anh Nguyễn Trọng T đều xác định không còn tình cảm với nhau, hai bên không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần,...theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Diệu L đối với anh Nguyễn Trọng T.

[2.2] Về con chung: chị Nguyễn Diệu L và anh Nguyễn Trọng T đều xác định là không có.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Diệu L và anh Nguyễn Trọng T đều xác định là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Diệu L phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Diệu L.

  1. [1] Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Diệu L được ly hôn với anh Nguyễn Trọng T.

  2. [2] Về con chung: không có.

  3. [3] Về tài sản chung, nợ chung: không có.

  4. [4] Về án phí: chị Nguyễn Diệu L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005791 ngày 05/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh. Chị Nguyễn Diệu L đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho: chị Nguyễn Diệu L biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; anh Nguyễn Trọng T biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Osaka, Nhật Bản;
  • - Lưu HSVA; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn

  • Số bản án: 35/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Diệu L - Nguyễn Trọng T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger