Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN ĐỀ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2024/DS-ST

Ngày: 14 – 6 – 2024.

“V/v tranh chấp: Hợp đồng mua bán tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Huy Tùng.
  2. Bà Hà Ngân Kim Tới.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quốc Dũng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Lý Út Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 55/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Đại H, sinh năm 1973 (Vắng mặt).

Là đại diện theo pháp luật của Hộ kinh doanh Đại lý T1.

Địa chỉ liên hệ: Số C, khóm T, phường K, thị xã V, tỉnh S.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đỗ Thị Mai C, sinh năm 1997 (Theo văn bản ủy quyền ngày 10/01/2024) (Có mặt).

Địa chỉ liên hệ: Số C, khóm T, phường K, thị xã V, tỉnh S.

Bị đơn:

  1. Ông Nguyễn Thanh L (D), sinh năm 1974 (Vắng mặt).
  2. Bà Võ Thị Thùy T, sinh năm 1977 (Vắng mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết án, đại diện nguyên đơn bà Đỗ Thị Mai C trình bày:

Trước đây năm 2020, bên ông Trần Đại H có thực hiện mua bán thức ăn và thuốc thủy sản với vợ chồng ông Nguyễn Thanh L, bà Võ Thị Thùy T, giao kết thông qua hợp đồng mua bán ngày 14/4/2020 và ngày 09/8/2022. Bên cạnh đó ông H giao dịch thông qua số giao nhận hàng ghi tên “Anh Dũng Ngan Rô".

Theo thỏa thuận, bắt đầu từ 14/4/2020 bên ông H bán thức ăn và thuốc thủy sản cho vợ chồng ông L, bà T. Hàng hóa được nhân viên giao hàng chở tận nơi hay ông L, bà T hoặc người nhà đến lấy hàng tại kho của ông H. Ông L, bà T tiến hành kiểm tra và ký bản đối chiếu xác nhận công nợ khi ông H yêu cầu. Cuối vụ thu hoạch tôm, ông L, bà T phải thanh toán hết tiền hàng. Trường hợp xét thấy công nợ cao, ông L, bà T vẫn không thanh toán tiền hàng, ông H có quyền cắt hàng và đề nghị ông, bà thanh toán hết số tiền hàng còn nợ. Thời điểm cắt hàng được xem là thời điểm chấm dứt giao dịch.

Trong quá trình thực hiện giao dịch, ông H đã cung cấp hàng hóa đúng theo yêu cầu đặt hàng của ông L, bà T. Sau khi nhận hàng ông L, bà T không hề phàn nàn hay có khiếu nại gì về số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa mà bên ông H đã giao. Mặc dù ông H thực hiện đúng thỏa thuận hợp đồng, nhưng ông L, bà T đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán, đến cuối vụ tôm ông L, bà T không thanh toán hết tiền hàng cho ông H.

Đến khi công nợ đã lên đến 494.310.000 đồng (Bốn trăm chín mươi bốn triệu, ba trăm mười nghìn đồng) thì phía ông L, bà T chỉ trả được 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) vào ngày 30/9/2022 và 15.000.000₫ (Mười lăm triệu đồng) vào ngày 04/10/2022 thì ngưng cho đến nay. Mặc dù ông H đã nhiều lần cử nhân viên gọi điện và đến nhà yêu cầu ông L, bà T trả tiền hàng còn nợ nhưng đến nay ông L, bà T vẫn cố tình không thanh toán. Hành vi cố tình không trả nợ của ông L, bà T đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông H.

Nay ông Trần Đại H yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc vợ chồng ông Nguyễn Thanh L, bà Võ Thị Thùy T có trách nhiệm liên đới trả cho ông số tiền 459.301.000₫ (Bốn trăm năm mươi chín triệu, ba trăm lẻ một nghìn đồng). Không yêu cầu tính lãi.

Tại biên bản hòa giải ngày 04/4/2024, bị đơn ông Nguyễn Thanh L trình bày:

Ông L thừa nhận có nợ ông H số nợ 459.301.000₫ (Bốn trăm năm mươi chín triệu, ba trăm lẻ một nghìn đồng). Do nuôi tôm thất bại cộng thêm bị bệnh tai biến nên ông L không còn khả năng lao động và hiện nay hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không còn khả năng chi trả.

Bị đơn, bà Võ Thị Thùy T không có lời trình bày do vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa nêu quan điểm:

Về việc tuân thủ pháp luật: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và qua lời trình bày của các đương sự tại phiên tòa đã có đầy đủ cơ sở để khẳng định việc nguyên đơn yêu cầu các bị đơn thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc 459.301.000₫ (Bốn trăm năm mươi chín triệu, ba trăm lẻ một nghìn đồng) là có căn cứ pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

  • Nguyên đơn ông Trần Đại H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông Nguyễn Thanh L, bà Võ Thị Thùy T có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ do mua hàng. Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản”.
  • Tại phiên tòa hôm nay bị đơn vợ chồng ông L, bà T đã được tống đạt giấy triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do. Do đó căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung vụ án:

  • Xét về hình thức và nội dung của hợp đồng mua bán tài sản giữa ông Trần Đại H với vợ chồng ông Nguyễn Thanh L, bà Võ Thị Thùy T là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự.
  • Xét về quá trình thực hiện hợp đồng: Quá trình mua bán Hộ kinh doanh đại lý T1 do ông Trần Đại H làm chủ có lập sổ theo dõi giao nhận hàng và vợ chồng ông L, bà T có ký tên vào sổ theo dõi giao nhận hàng. Tính đến ngày 04/10/2022, vợ chồng ông L, bà T thừa nhận còn nợ ông H với số tiền là 459.301.000₫ (Bốn trăm năm mươi chín triệu, ba trăm lẻ một nghìn đồng).

[3] Qua những lời trình bày của đương sự cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Vợ chồng ông Nguyễn Thanh L, bà Võ Thị Thùy T có mua các loại thức ăn và thuốc thủy sản của ông Trần Đại H. Quá trình mua bán, sau khi đối chiếu công nợ thì vợ chồng ông L, bà T còn nợ là 459.301.000₫ (Bốn trăm năm mươi chín triệu, ba trăm lẻ một nghìn đồng) kể từ ngày 04/10/2022. Như vậy vợ chồng ông L, bà T đã vi

phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định tại Điều 440 Bộ luật dân sự. Do đó ông H yêu cầu vợ chồng ông L, bà T phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ là có căn cứ.

[4] Về lãi suất chậm trả: Do đại diện nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[6] Kiểm sát viên tại phiên tòa nêu quan điểm về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 430, Điều 440, Điều 357; Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  2. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Thanh L (D), bà Võ Thị Thùy T có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho ông Trần Đại H số tiền còn nợ là 459.301.000₫ (Bốn trăm năm mươi chín triệu, ba trăm lẻ một nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Trần Đại H cho đến khi thi hành án xong mà vợ chồng ông L, bà T chậm trả tiền thì còn phải liên đới trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  • Vợ chồng ông Nguyễn Thanh L (D), bà Võ Thị Thùy T phải liên đới nộp 22.965.000₫ (Hai mươi hai triệu, chín trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) tiền án phí.
  • Ông Trần Đại H không phải chịu án phí. Ông H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 11.186.000₫ (Mười một triệu, một trăm tám mươi sáu nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002432 ngày 14/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

Các đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng người vắng mặt được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Trần Đề;
  • - Chi cục THA huyện Trần Đề;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng (P.KTNV&THA);
  • - Các đương sự.
  • - Lưu HSVA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 35/2024/DS-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

  • Số bản án: 35/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông H yêu cầu ông L thanh toán số tiền nợ 459.301.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger