|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 14 - 5 - 2024
V/v: Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Vui
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông K'Đào.
- Ông Đào Duy Trâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thuỳ Lương –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh tham gia phiên tòa: Ông K'Dem – Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 58/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2024 về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thanh T, sinh năm 1996; địa chỉ: Số nhà A Thôn T, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
- Bị đơn: Anh Trần Phước H, sinh năm 1992; địa chỉ: Số nhà A đường N, Tổ dân phố A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.
(Chị T có mặt, anh H có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh T trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Tôi (Phạm Thị Thanh T) và anh Trần Phước H kết hôn vào năm 2023, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện D, Lâm Đồng, hôn nhân do hai bên tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình và có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 12 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, chửi bới lẫn nhau. Hiện vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2023 đến nay. Sau khi ly thân thì chị T chuyển về sinh sống cùng bố mẹ đẻ tại Thôn T, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng cho đến nay, còn anh Trần Phước H vẫn sinh sống tại số nhà A đường N, Tổ dân phố A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, từ khi sống ly thân đến nay vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mạnh ai nấy sống.
Nay xác định vợ chồng không còn tình cảm, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn với anh Trần Phước H.
+ Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng không có con chung, hiện nay chị T không có thai nghén gì nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về tài sản chung, tài sản cho vay chung, tài sản nợ chung: Không có.
- Bị đơn anh Trần Phước H đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án nhưng không có ý kiến trình bày gửi cho Tòa án; Tòa án đã triệu tập anh H nhiều lần để lấy lời khai, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do. Anh Trần Phước H trình bày tại bản tự khai và đơn xin xét xử văng mặt ngày 19/4/2024:
+ Về hôn nhân: Tôi đồng ý ly hôn với cô Phạm Thị Thanh T.
+ Về con chung: Không có
+ Về tài sản chung, tài sản cho vay chung, tài sản nợ chung: Không có.
- Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết: Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh T cho chị Phạm Thị Thanh T được ly hôn với anh Trần Phước H.
Về án phí: Chị Phạm Thị Thanh T chịu 300.000 đồng án phí xin ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Tòa án nhân dân huyện Di Linh nhận định:
[1] Về tố tụng: Bị đơn anh Trần Phước H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Trần Phước H theo thủ tục chung.
[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn chị Phạm Thị Thanh T khởi kiện xin ly hôn với bị đơn anh Trần Phước H. Do đó quan hệ tranh chấp là: “Ly hôn” theo khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Nơi bị đơn cư trú là huyện D, tỉnh Lâm Đồng nên Tòa án nhân dân huyện Di Linh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 – Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thanh T và anh Trần Phước H kết hôn vào năm 2023, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng, hôn nhân do hai bên tự nguyện, được sự đồng ý của hai bên gia đình và có tổ chức lễ cưới theo phong tục. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 12 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã chửi bới lẫn nhau. Hiện vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12 năm 2023 đến nay. Sau khi ly thân thì chị T chuyển về sinh sống cùng bố mẹ đẻ tại Thôn T, xã Đ, huyện D, tỉnh Lâm Đồng cho đến nay, còn anh Trần Phước H sinh sống tại số nhà A đường N, Tổ dân phố A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Từ khi sống ly thân đến nay vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, mạnh ai nấy sống. Nay chị T xác định vợ chồng không còn tình cảm, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin ly hôn với anh Trần Phước H.
Xét mâu thuẫn giữa chị T và anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cho chị T và anh H được ly hôn.
[4] Về con chung: Nguyên đơn chị T trình bày vợ chồng không có con chung và tại bản tự khai ngày 19/4/2024 bị đơn anh H cũng trình bày ý kiến vợ chồng không có con chung nên Tòa án không đề cập việc giải quyết con chung trong bản án này.
[5] Về tài sản chung, tài sản cho vay chung, nợ chung: Nguyên đơn chị T trình bày không có tài sản chung, không có tài sản cho vay chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh H không đến Tòa án làm việc Tuy nhiên tại bản tự khai ngày 19/4/2024 bị đơn anh H cũng trình bày ý kiến vợ chồng không có tài sản chung, không có tài sản cho vay chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy Tòa án không đề cập giải quyết tài sản chung, tài sản cho vay chung, nợ chung trong bản án này.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 144; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, chị Phạm Thị Thanh T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 điều 39; Điều 144; Điều 147, khoản 2 điều 227; khoản 1 điều 228; điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 51; Điều 53; Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Thanh T và anh Trần Phước H được ly hôn.
- Về án phí: Chị Phạm Thị Thanh T chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm xin ly hôn. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0005624 ngày 06 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đoàn Thị Vui |
Bản án số 35/2024/HNGĐ-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 35/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
