|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2025/HNGĐ-ST Ngày 14/02/2025 "V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chiến
- Ông Lý Đình Đạt
- - Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 14/02/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 367/2024/TLST-HNGĐ ngày 27/12/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/01/2025 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Ngụy Thị Kim Y, sinh năm 1997 (có mặt)
- Địa chỉ: tổ dân phố T, phường C, thành phố B, tỉnh Bắc Giang
- * Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu S, sinh năm 1987 (có mặt)
- Tại thời điểm Tòa án thụ lý vụ án đang ở nước ngoài, về Việt Nam ngày 28/12/2024.
- Địa chỉ: tổ dân phố T, phường C, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- * Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Ngụy Thị Kim Y trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Hữu S kết hôn với nhau ngày 12/7/2021, việc kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Y (nay là phường C, thành phố B). Sau khi kết hôn, tháng 10/2021 anh S đã đi lao động tại P đến nay. Hiện nay giữa vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Anh chị đã sống ly thân với nhau và không quan tâm gì đến nhau nữa. Chị đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 4/2024. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Nguyễn Hữu S được ly hôn.
- - Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu Đăng K, sinh ngày 15/01/2022. Cháu K ở với chị và đang còn nhỏ nên cần có sự quan tâm của mẹ. Do đó khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu K cho chị nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Theo đơn khởi kiện chị có trình bày không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con vì anh S ở nước ngoài. Nay anh S đã về Việt Nam nên chị muốn anh S có trách nhiệm với con. Vì vậy chị bổ sung yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con, yêu cầu anh Nguyễn Hữu S có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu K mỗi tháng 02 triệu kể từ thời điểm ly hôn cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Hiện nay chị đang làm tại KCN V, thu nhập khoảng 9 triệu đồng / tháng nên có đủ khả năng để nuôi con.
- - Về tài sản chung, công nợ chung: không đề nghị Tòa án giải quyết.
- * Bị đơn là anh Nguyễn Hữu S trình bày: Trước đây anh sinh sống và làm việc tại P từ tháng 10/2021 và đã về Việt Nam sinh sống ngày 28/12/2024 và không đi nước ngoài làm việc nữa.
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Ngụy Thị Kim Y kết hôn với nhau ngày 12/7/2021 và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Y (nay là phường C, thành phố B). Tháng 10/2021 anh đã đi lao động tại P. Hiện nay giữa vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Đến nay giữa anh và chị Y đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân từ lâu nên không còn tình cảm. Đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Y.
- - Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu Đăng K, sinh ngày 15/01/2022. Trước đây anh sinh sống ở nước ngoài nên từ khi sinh ra cháu K đều do chị Y nuôi dưỡng. Từ tháng 4/2024 khi vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng thì chị Y đưa cháu K về ở tại nhà ông bà ngoại. Từ khi anh về Việt Nam sinh sống thì anh vẫn quan tâm cháu, thường xuyên đưa cháu K về nhà anh chơi. Khi ly hôn anh cũng có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu K và đề nghị Tòa án giao cháu K cho anh nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: anh không đề nghị chị Y phải cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay anh mới về Việt Nam sinh sống nên chưa đi làm, dự kiến sau Tết nguyên đán thì anh sẽ xin việc làm.
- - Về tài sản chung, công nợ: vợ chồng không có tài sản chung nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
- * Tại phiên tòa sơ thẩm: Các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, chị Y và anh S thuận tình ly hôn và giao cháu K cho chị Y nuôi dưỡng. Anh S đồng ý cấp dưỡng cho cháu K 2.000.000đồng /tháng cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.
- * Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- - Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, bị đơn liên quan kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
- - Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngụy Thị Kim Y. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Ngụy Thị Kim Y và anh Nguyễn Hữu S.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hữu Đăng K cho chị Ngụy Thị Kim Y trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
- Về việc cấp dưỡng anh Nguyễn Hữu S cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Ngụy Thị Kim Y mức 2.000.000đồng / 1 tháng. Thời điểm cấp dưỡng từ ngày 14/02/2025 cho đến khi con chung khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác.
- Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: chị Ngụy Thị Kim Y phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm, anh Nguyễn Hữu S phải chịu 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Ngụy Thị Kim Y có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, trách nhiệm nuôi con chung với anh Nguyễn Hữu S. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, anh S đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngụy Thị Kim Y và anh Nguyễn Hữu S kết hôn với nhau ngày 12/7/2021 và đăng ký kết hôn tại UBND xã C, huyện Y (nay là phường C, thành phố B), việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị Y xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh S. Xem xét đơn khởi kiện của chị Y, HĐXX thấy: chị Y xác định hiện nay vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và đã sống ly thân với nhau. Anh S cũng xác định vợ chồng đã mâu thuẫn, sống ly thân và không còn tình cảm. Tại phiên tòa, chị Y và anh S đều đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Y và anh S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Y và anh S.
[4]. Về con chung: chị Y và anh S có 01 con chung là cháu Nguyễn Hữu Đăng K, sinh ngày 15/01/2022. Hiện nay cháu K đang sinh sống cùng chị Y và chị Y đề nghị được nuôi dưỡng cháu K. Tại phiên tòa, anh S đồng ý để chị Y được nuôi dưỡng cháu K. HĐXX xét thấy: cháu K từ nhỏ đều do chị Y chăm sóc nuôi dưỡng và hiện nay cháu vẫn ở cùng chị Y. Chị Y hiện nay có việc làm và thu nhập ổn định nên có đủ điều kiện để nuôi con. Cháu K vẫn còn nhỏ cần có sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ nên giao cháu K cho chị Y nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung chị Y đề nghị anh S cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng / 1 tháng, anh S có ý kiến đồng ý cấp dưỡng theo đề nghị của chị Y. Xét yêu cầu cấp dưỡng và mức cấp dưỡng là phù hợp với quy định pháp luật, các đương sự thống nhất được với nhau nên HĐXX chấp nhận đề nghị của chị Y, yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi cháu K mức 2.000.000đồng / 1 tháng. Thời điểm cấp dưỡng từ ngày 14/02/2025 cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, anh S không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): các đương sự không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Ngụy Thị Kim Y phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm và buộc anh Nguyễn Hữu S phải chịu 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 107, Điều 110, Điều 117, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Ngụy Thị Kim Y.
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Ngụy Thị Kim Y và anh Nguyễn Hữu S.
- Về con chung: Giao cháu Nguyễn Hữu Đăng K, sinh ngày 15/01/2022 cho chị Ngụy Thị Kim Y trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
- Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: anh Nguyễn Hữu S cấp dưỡng nuôi cháu K cho chị Ngụy Thị Kim Y mức 2.000.000đồng / 1 tháng. Thời điểm cấp dưỡng từ ngày 14/02/2025 cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Hữu S không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về án phí: Chị Ngụy Thị Kim Y phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Xác nhận chị Y đã nộp số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000303 ngày 27/12/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
Anh Nguyễn Hữu S phải chịu 300.000đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 35/2025/HNGĐ-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 35/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Yến ly hôn Sơn
