|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 35/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13 - 5 - 2024 V/v tranh chấp: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Huỳnh Sinh.
2. Ông Trần Hoàng Liên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 641/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2024/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc T - sinh năm 1977 (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
2/ Bị đơn: Ông Đặng Hoài L - sinh năm 1974 (Vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Thôn C, xã T, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc T trình bày:
Bà và ông Đặng Hoài L tự nguyện tìm hiểu và quen biết nhau khoảng hơn 02 năm thì tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới, tự nguyện chung sống với nhau từ năm 1998; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Ninh Thuận ngày 30/10/1998.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc; đến khi bà sinh con thứ 02 được vài tháng thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhưng vì các con nên bà tự chịu đựng. Đến đầu năm 2023 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông L tính gia trưởng, thường xuyên ăn nhậu rồi về nhà chửi bới, đánh đập bà; vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống nên mâu thuẫn xảy ra nhiều hơn. Bà đã làm đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn ông L nhiều lần nhưng vì nghĩ đến các con nên bà đã bỏ qua. Tuy nhiên đến nay, bà không thể tiếp tục chịu đựng được nữa nên yêu cầu được ly hôn ông L.
Bà và ông Đặng Hoài L có 02 con chung là Đặng Lê Như N - sinh ngày 24/6/2000 và Đặng Minh Q - sinh ngày 13/01/2006. Các con chung đã trưởng thành, có khả năng lao động nuôi sống bản thân nên bà không có yêu cầu gì.
Bà và ông Đặng Hoài L không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại “Đơn xin xét xử vắng mặt” ngày 23/4/2024, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và những ý kiến đã khai tại Tòa án.
Bị đơn là ông Đặng Hoài L: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án; Tòa án đã thông báo, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông L không đến Tòa án làm việc và cũng không có ý kiến phản hồi gì liên quan đến tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp; vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, cụ thể như sau:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án:
Đối với nguyên đơn: Đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn: Mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các thông báo tố tụng tuy nhiên vẫn vắng mặt; không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc T.
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn với ông Đặng Hoài L.
Về con chung: Không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Ngọc T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Đặng Hoài L có nơi cư trú tại Thôn C, xã T, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự (Viết tắt là BLTTDS); xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn”; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
[1.2] Về việc vắng mặt nguyên đơn: Tại “Đơn xin xét xử vắng mặt” ngày 23/4/2024, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc T xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện, những ý kiến đã khai tại Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
[1.3] Về việc vắng mặt bị đơn: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập tham gia phiên tòa cho bị đơn là ông Đặng Hoài L nhưng ông L không đến tham gia tố tụng mặc dù đã được tống đạt, triệu tập hợp lệ. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của BLTTDS, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc T và ông Đặng Hoài L chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Ninh Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 70, ngày 30/10/1998. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông L là hợp pháp. Bà T và ông L chung sống hạnh phúc được gần 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, đến đầu năm 2023 thì trở nên trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn theo bà T là do ông L tính gia trưởng, thường xuyên ăn nhậu rồi về nhà chửi bới, đánh đập bà; vợ chồng hiện bỏ mặc, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông L không đến Tòa án để làm việc, điều này chứng tỏ ông L thiếu thiện chí và không có mong muốn hàn gắn gia đình.
Theo “Đơn xin xác nhận” ngày 20/02/2024, đại diện Thôn C, xã T, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm cung cấp thông tin: “... ông L tính gia trưởng, thường xuyên ăn nhậu rồi về nhà chửi bới, đánh đập bà T; vợ chồng không có tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống; vợ chồng không quan tâm đến nhau ...”.
Xét thấy: Tình trạng mâu thuẫn giữa bà T và ông L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc bà T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông L là có cơ sở, phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nên yêu cầu ly hôn của bà T được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc T xác nhận 02 người con chung với ông Đặng Hoài L đã trưởng thành, có khả năng lao động nuôi sống bản thân; bà không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị Ngọc T không yêu cầu giải quyết về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[3] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bà Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Ngọc T.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Ngọc T được ly hôn ông Đặng Hoài L.
- Về con chung: Không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Ngọc T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008507 ngày 06/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Bà Nguyễn Thị Ngọc T đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Án xử công khai, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Hồng |
Bản án số 35/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn
- Số bản án: 35/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Ngọc T với ông Đặng Hoài L
