TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 35/2024/HS-ST. Ngày: 12/9/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lý Thị Si Đê
Bà Dương Kim Dung
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn-Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Lê Kim Lộc-Kiểm sát viên.
Ngày 12/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 41/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lâm S1; Sinh ngày: 14/4/1997; Nơi sinh: Tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp K, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm S và bà Lý Thị H; Vợ: Huỳnh Thị Mỹ T và có 01 người con sinh năm 2022; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/4/2024 đến ngày 19/4/2024 chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)
- Người bào chữa:
- Ông Trần Quang T1-Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S; (vắng mặt, có đơn xin vắng và gửi bài bào chữa)
- Ông Nguyễn Phong V-Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S; (có mặt)
- Bị hại: Ông Danh Hoài H1; Sinh ngày 01/01/1992; Nơi cư trú: Ấp K, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (đã chết)
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Sơn Thị Chành T2; Sinh ngày 01/01/1992; Nơi cư trú: Ấp K, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Người đại diện theo ủy quyền của bà Sơn Thị Chành T2: Bà Liêu Thị H2; Sinh ngày 01/01/1976; Nơi cư trú: Ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Huỳnh Thị Mỹ T; Sinh ngày 25/01/1993; Nơi cư trú: Ấp K, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; (có mặt)
- Người làm chứng:
- Ông Lâm T3; Sinh năm 1997; Nơi cư trú: Ấp K, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; ( vắng mặt)
- Ông Liêu Công T4; Sinh ngày 01/01/1983; Nơi cư trú: Ấp K, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; (vắng mặt)
- Ông Lý Văn L; Sinh ngày 01/01/1996; Nơi cư trú: Ấp K, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng; ( vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lâm Song, sinh ngày: 14/4/1997 và Danh Hoài H1, sinh ngày: 01/01/1992, cùng cư trú tại ấp K, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, cả hai không có mối quan hệ họ hàng và không có mâu thuẫn với nhau.
Vào khoảng 13 giờ ngày 12/04/2024, Lâm S1 một mình mang dây kim loại dài 678,23m (dây chì), đi ra phần ruộng của ông Sơn V1 để căng dây kim loại dọc theo bờ kênh nội đồng để bẫy chuột, Lâm S1 kéo dây kim loại quấn quanh thanh tre để cố định và cắm xuống mặt đất, dây kim loại cách mặt đất ruộng 2,5cm, mỗi thanh tre cách nhau khoảng 01 - 02m, khoảng giữa mỗi thanh tre Lâm S1 dùng ống nhựa để kê dưới dây kim loại, dây kim loại cách bờ kênh 1,1m, sau đó Lâm S1 đi về nhà.
Đến khoảng 17 - 18 giờ cùng ngày, Lâm S1 mang 06 đèn báo hiệu, 01 bình ắc-qui nhãn hiệu Dongnai N150 và 01 bộ kích điện để trong hộp nhựa, ra nơi căng dây kim loại trước đó, Lâm S1 đặt bình ắc - qui và bộ kích điện ở khoảng giữa đoạn dây kim loại, rồi đặt 06 đèn chớp màu đỏ, tự động nhấp nháy liên tục, dọc theo đường dây kim loại, mỗi cây cách nhau khoảng 100m, đèn cao khoảng 2m.
Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Lâm S1 mắc nối một đầu bộ kích điện vào dây kim loại, một đầu bộ kích điện mắc trực tiếp vào bình ắc - qui. Sau khi mắc nối vào nguồn điện xong thì bộ kích điện sẽ phát âm thanh báo hiệu đã có nguồn điện, Lâm S1 ngồi chỗ bình ắc - qui để canh và khoảng cách 01 tiếng đồng hồ Lâm Song sẽ đi bắt chuột một lần.
Đến khoảng hơn 22 giờ cùng ngày Danh Hoài H1 cùng với ông Liêu Công T4 (sinh năm: 1983, nơi thường trú: ấp S, thị trấn H, huyện T, tỉnh Sóc Trăng) và Lý Văn L (sinh năm: 1996, nơi thường trú: ấp K, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng), đi bắt chuột ở dọc theo tuyến kênh nội đồng thuộc ấp K, xã C, huyện T, cả ba người từ dưới kênh đi lên ruộng để bắt chuột, H1 bước lên bờ kênh đi vào phần ruộng của ông V1, T4 còn ở dưới K, L còn ở bờ kênh bên kia, lúc này T4 nghe tiếng “khẹc, khẹc" của H1 trên bờ, L thấy H1 té ngã nên bơi qua kênh, T4 chạy lên dùng rơm quẩn quanh tay và cùng L kéo H1 ra khỏi dây kim loại dẫn điện. Cả hai tiến hành các bước hô hấp nhân tạo cho H1 và đưa H1 đến bãi đất trống cách nơi bị điện giật khoảng 30m để tiếp tục sơ cứu, một lúc sau thì H1 tử vong. Thời điểm này, Lâm S1 nghe tiếng báo hiệu từ bộ kích điện kêu lớn tiếng, đèn đỏ sáng liên tục, lúc này Lâm S1 nghi ngờ có chó hay người bị mắc vào dây kim loại dẫn điện, Lâm Song ngắt nguồn điện rồi đi kiểm tra dọc theo đường dây kim loại dẫn điện. Khi Lâm S1 đi được khoảng 300m thì phát hiện có một đèn pin đội đầu rơi cạnh đường dây điện, Lâm S1 tiếp tục đi kiểm tra cách chỗ phát hiện đèn pin khoảng 100m thì phát hiện H1 nằm ngửa bất động trên ruộng cặp bờ kênh, đầu hướng về bờ kênh, chân hướng ra ruộng, lúc này Lâm S1 biết H1 bị vướng vào dây kim loại dẫn điện của Lâm S1 và bị điện giật tử vong, nên Lâm S1 đến Công an xã C, huyện T để đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội. (Bút lục 120-134; 154-173).
Tại biên bản kiểm tra nguồn điện ngày 13/4/2024 thì điện áp đo được là 346V.
Tại Bản Kết luận giám định tử thi số: 72/KLGĐTT-KTHS ngày 16 tháng 4 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh S (bút lục 96-97) kết luận về nguyên nhân tử vong của Danh Hoài H1, như sau:
- Các kết quả chính:
- Kết quả giám định:
- + Trên cơ thể nạn nhân có 02 vết khô da.
- + Bề mặt hai phổi có nhiều chấm xuất huyết li ti.
- + Mõm tim và mặt sau tim có nhiều chấm xuất huyết rải rác.
- + Tổ chức dưới các vết khô da nhạt màu.
- + Không có hiện tượng bầm tụ máu dưới vết.
- Kết quả xét nghiệm bổ sung, giám định khác: Âm tính (-).
- Kết luận:
- Nguyên nhân tử vong: Tác động của dòng điện qua cơ thể.
- Thời gian tử vong đến khi mổ tử thi: >10 giờ.
- Đề nghị giám định vi thể để bổ sung kết luận.
Tại kết luận giám định mô bệnh học số: 133/KLMBH-PVPYQG ngày 10 tháng 5 năm 2024 của P tại Thành Phố Hồ Chí Minh (bút lục 102-104) đối với: Mô bệnh học của Danh Hoài H1, như sau:
- + Da: phỏng nhiệt điện.
- + Phổi: phù phổi cấp.
- + Tim: mô kẽ cơ tim phù, các mạch máu sung huyết.
- + Gan: sung huyết.
Tại Cáo trạng số 45/CT-VKSST-P2 ngày 22/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng để xét xử đối với Lâm S1 về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Trong quá trình điều tra, bị cáo Lâm S1 thống nhất với các kết luận giám định. Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi của mình và tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường tiền theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp bị hại.
Trong quá trình điều tra, người đại diện hợp pháp của bị hại thống nhất với các kết luận giám định. Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo S1. Về trách nhiệm dân sự, người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường bồi thường tổn thất tinh thần và tiền chi phí mai táng tổng cộng là 210.000.000đ, tiền cấp dưỡng hàng tháng cho hai người con của bị hại là Danh T5 và Danh H3 đến khi đủ 18 tuổi là 4.000.000 đồng/01 tháng/02 người. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp bị hại. Gia đình bị cáo đã bồi thường trước 12.000.000 đồng.
Tại phiên toà, sau khi luận tội và tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:
- Tuyên bố: Bị cáo Lâm S1 phạm tội “Giết người”.
- Áp dụng: Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lâm S1 từ 02 năm đến 04 năm tù.
- Đồng thời, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm xử lý vật chứng, giải quyết về trách nhiệm dân sự và án phí của vụ án.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Lâm S1 trình bày: Về tội danh và khung hình phạt mà Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã truy tố đối với bị cáo S1 là phạm tội giết người theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng quy định. Về tình tiết giảm nhẹ: Thống nhất với các tình tiết giảm nhẹ mà Kiểm sát viên đã đề nghị áp dụng đối với bị cáo như bị cáo đã tác động gia đình bồi thường tiền cho bị hại, bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo mức thấp nhất mà Kiểm sát viên đã đề nghị đối với bị cáo và miễn án phí cho bị cáo.
Nói lời sau cùng tại phiên tòa: Bị cáo S1 xin lỗi gia đình bị hại và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa vắng mặt của người làm chứng ông Lâm T3, ông Liêu Công T4 và ông Lý Văn L. Xét thấy, người làm chứng vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử văng mặt người làm chứng.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Qua xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, bị cáo Lâm S1 đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện như nội dung vụ án đã nêu ở phần trên. Lời thừa nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ như biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Như vậy, đã có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 13 giờ ngày 12/04/2024 tại ruộng lúa thuộc ấp K, xã C, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo Lâm S1 sử dụng một đoạn dây kim loại dài 678,23m giăng dọc theo bờ kênh nội đồng để bẫy chuột, bị cáo dùng bình ắc-qui Dongnai N150 và 01 bộ kích điện đấu nối vào dây kim loại để tạo ra dòng điện có điện áp là 346V, khi xiệt thì bị cáo không có đặt biển báo, không bố trí người canh gác, chỉ lâu lâu ra soi đèn pin để kiểm tra. Đến khoảng hơn 22 giờ cùng ngày bị hại Danh Hoài H1 đi ra ruộng để bắt chuột thì vướng vào dây kim loại có nối điện của bị cáo Lâm S1 và bị điện giật tử vong.
[4] Bị cáo Lâm S1 là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc sử dụng nguồn điện để bẫy xiệt chuột ở nơi có người qua lại có thể gây chết người, hậu qủa hành vi của bị cáo làm bị hại chết do bị điện giật. Hành vi của bị cáo đã đủ yêu tố cấu thành tội "Giết người" theo Khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Lâm S1 về tội “Giết người" theo quy định tại khoản 2 Điều 123 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo S1 là rất nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tính mạng của bị hại, mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Với mức độ, tính chất hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng một mức hình phạt tù tương xứng đối với bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.
[6] Tuy nhiện, trong vụ án này, bị cáo S1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo và gia đình đã khắc phục một phần hậu quả cho gia đình bị hại với số tiền là 12.000.000 đồng; Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; Sau khi phạm tội đã ra đầu thú; Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; Đại diện bị hại có đơn và tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo là người dân tộc Khmer trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu là thể hiện sự khoản hồng của pháp luật Nhà nước ta.
[7] Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[8] Lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo về tình tiết giảm nhẹ là có căn cứ Hội đồng xét xử chấp nhận.
[9] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra thu giữ vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) bình ắc-qui Dongnai N150; 01 (một) hộp nhựa đựng lò xo; Sợi dây kim loại dài 678,23m; 01 (một) đèn pin màu đen; 01 (một) thùng nhựa; 48 ống nhựa; 227 thanh tre; 06 đèn chớp màu đỏ (Hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/8/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh S và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng). đối với các vật chứng là tài sản của các bị cáo, bị hại nhưng hiện không có giá trị hoặc không sử dụng được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy đối với toàn bộ vật chứng của vụ án.
[10] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường tiền tổn thất tinh thần và tiền chi phí mai táng tổng cộng là 210.000.000đ, tiền cấp dưỡng hàng tháng cho hai người con của bị hại là Danh T5 và Danh H3 đến khi đủ 18 tuổi là 4.000.000 đồng/01 tháng/02 người. Bị cáo đồng ý bồi thường theo yêu cầu của người đại diện hợp pháp bị hại. Xét sự thỏa thuận giữa bị cáo với người đại diện hợp pháp của bị hại tại phiên tòa là tự nguyện, đúng quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho người đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 210.000.000 đồng; Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận trước của gia đình bị cáo 12.000.000 đồng, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường cho đại diện hợp pháp của bị hại số tiền 198.000.000 đồng và và cấp dưỡng cho hai người con của bị hại là Danh T5 và Danh H3 đến khi đủ 18 tuổi là 2.000.000 đồng/01 tháng/01 người.
[11] Về án phí: Hội đồng xét xử thấy, lẽ ra theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a, c, g khoản 1 Điều 23 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bị cáo thuộc hộ nghèo, cận nghèo và có đơn xin miễn án phí nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận miễn toàn bộ án phí sơ thẩm cho bị cáo.
[12] Về quyền kháng cáo bản án: Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 123; điểm b, điểm s, khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Tuyên bố bị cáo Lâm S1 phạm tội “Giết người”.
- Xử phạt bị cáo Lâm S1 04 (B) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/4/2024.
- Về xử lý vật chứng:
- Căn cứ vào điểm a và điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự
- Tịch thu và tiêu hủy đối với vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) bình ắc-qui Dongnai N150; 01 (một) hộp nhựa đựng lò xo; Sợi dây kim loại dài 678,23m; 01 (một) đèn pin màu đen; 01 (một) thùng nhựa; 48 ống nhựa; 227 thanh tre; 06 đèn chớp màu đỏ (Hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/8/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an tỉnh S và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng)
- Về trách nhiệm dân sự:
- Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 584, 585, 586, 587, 590, 591 và 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Xử buộc bị cáo Lâm S1 có trách nhiệm bồi thường tiền cho những người thân thích ở hàng thừa kế thứ nhất của bị hại với tổng số tiền là 198.000.000 đồng và cấp dưỡng hàng tháng cho 02 con của bị hại đến khi đủ 18 tuổi với số tiền 2.000.000 đồng/tháng/01 người.
- Về nghĩa vụ thi hành án dân sự:
- + Về nghĩa vụ chậm thi hành án dân sự: Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 476 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- + Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
- Về án phí:
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a, c, g khoản 1 Điều 23 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
- Bị cáo Lâm S1 được miễn toàn bộ án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án:
- Căn cứ vào các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021).
- Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Nguyễn Thành Hữu |
Bản án số 35/2024/HS-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự - giết người
- Số bản án: 35/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Giết người
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lâm S1
